Văn hóa Việt nhìn từ tiếng Việt: Khớp hay khốp, kiều hay kiệu?

Câu ca dao này, với luật bằng trắc của thể lục bát là “ chuẩn không cần chỉnh ”. Tuy nhiên, xin nhấn mạnh vấn đề, chữ thứ 5 của câu lục phải là “ kiều ” mới đúng chuẩn. Tại sao phải là “ kiều ” ( âm bằng ), chứ không phải “ kiệu ” ( âm trắc ) ? Chuyện này ta sẽ bàn sau. Trước mắt, khẳng định chắc chắn rằng hiếm có câu ca dao nào đã mở ra điệu lý / lý ngựa ô nhiều mẫu mã, phong phú bằng câu vừa nêu. Thật giật mình, trong quy trình sưu tầm, ký âm, biên soạn bộ sách Lý trong dân ca người Việt ( NXB Trẻ – 2006 ), nhà nghiên cứu, nhạc sĩ Lư Nhất Vũ, nhà thơ Lê Giang, nhạc sĩ Lê Anh Trung đã ghi nhận một số lượng kỷ lục : 29 bài lý ngựa ô – trải dài từ Quảng Trị, Thừa Thiên đến tận những vùng đất mới ở phương Nam. Và nhóm biên soạn đã đưa ra một Kết luận quan trọng : “ Cho đến nay, tất cả chúng ta chưa phát hiện dấu chân của lý ngựa ô chạy ngược ra phương Bắc ” ( tr. 35 ). Nói cách khác, lý ngựa ô đã phản ánh hành trình dài mở cõi lập nghiệp, khẩn hoang về cõi phương Nam của dân tộc bản địa Việt. Điệu lý này “ vốn sinh ra từ đất Thuận Hóa – Phú Xuân ” ( tr. 32 ) để rồi “ hình thành hệ thống lý ngựa ô trong âm nhạc dân gian việt nam, mang những sắc thái độc lạ, tiềm ẩn những mối tương đương và những nét dị biệt từ lời hát đến giai điệu ” ( tr. 33 ). Văn hóa Việt nhìn từ tiếng Việt: Khớp hay khốp, kiều hay kiệu? - ảnh 1

Về từ ngữ, trong tương đồng đã có dị biệt ra sao?

“ Khớp con ngựa, ngựa ô / Khớp con ngựa, ngựa ô / Ngựa ô anh khớp ”. Khớp hay khốp ? Đại Nam quấc âm tự vị ( 1895 ) lý giải : “ Khớp : ràng buộc, kiềm giữ ( thường nói về miệng ) ” và đưa ra những từ tương quan : “ dàm khớp : đồ ràng buộc miệng ngựa, mũi trâu ; khớp ngựa : tra khớp ngựa ; khớp bạc : khớp bằng bạc ; khớp miệng : ràng buộc lấy cái miệng, nhứt là không cho nói, không cho kêu la ”. Với những dẫn chứng này, ta mạnh dạn loại trừ dị bản “ khốp ”. Mà khớp cũng còn có nghĩa là sợ, ví dụ điển hình, một người bình phẩm : “ Hắn ta râu quặp thiệt, chỉ mới nghe bà vợ ho một tiếng đã khớp ”. Khớp hiểu nghĩa này, theo nhà ngôn từ Lê Ngọc Trụ, do từ “ khiếp ” ( nhát sợ ) mà ra. Khớp nớp / khép nép cùng nghĩa, tùy theo cách phát âm vùng miền. Không chỉ có thế, khớp còn nhiều nghĩa khác, tùy ngữ cảnh. “ Ngựa ô anh thắng kiệu vàng ” hay “ kiều vàng ” ? Ta hãy xét từ kiệu : “ Ghế ngồi có đòn khiêng để rước hay để đi đường – kiệu rước thần ( Nước Ta tự điển – 1931 ). Thế thì, không hề đưa cái kiệu lên sống lưng ngựa. Phải là kiều. Ca dao có câu : “ Cỡi ngựa thì phải thắng kiều / Gẫm thân con ngựa chịu nhiều đắng cay ”. Vậy “ thắng kiều ” là gì ? “ Thắng kiều : bắt yên ngựa ”, đồng nghĩa tương quan với “ thắng ngựa ” – ông Huình Tịnh Paulus Của lý giải. Lưu ý, văn bản lý ngựa ô ở Trà Vinh như sau : “ Ngựa ô anh thắng kiều vàng / Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng đen / Yên vàng kiều gấm / Anh đi ngàn dặm / Lội suối trèo non / Anh đưa nàng về dinh ”. Ở đây, từ “ kiều ” chưa biến dạng qua “ kiệu ” .

Mà “ kiều ” cũng có nhiều nghĩa, ví dụ điển hình : “ Muốn sang thì bắc phù kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy ”. Có lẽ do không hiểu phù kiều nên đã phát sinh dị bản “ Muốn sang thì bắc cầu kiều ”. Hán – Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng lý giải đó là “ cầu nổi do nhiều chiếc thuyền liên kết lại ”. “ Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng đen, búp sen lá dậm, dây cương đằm thắm, cán roi anh bịt đồng thà ”. Dậm là thấm nhòe, không rõ, thấm ra nhiều chỗ như giấy dậm mực, giấy viết bị dậm … Tra nhiều từ điển, thú thật, tôi không hề tìm ra từ “ lá dậm ”. May quá, Đại Nam quấc âm tự vị còn ghi nhận “ lá giặm : đồ lót hai bên sống lưng ngựa, chính chỗ người cỡi cặp hai vế ”. Như vậy, phải là “ búp sen lá giặm ”. Có thể hiểu nôm na, “ búp sen lá giặm ” trong ngữ cảnh này là hình bông sen còn búp, hoàn toàn có thể được làm bằng sắt kẽm kim loại gắn trên “ đồ lót hai bên sống lưng ngựa ” như một cách trang trí cho thích mắt. Nhân đây, nói luôn, khi vào đến Sóc Trăng lại có dị bản : “ Ngựa ô yên thắng kiều vàng / Búp sen bằng lác / Lục lạc bằng đất / Chân chạy lấc khấc … ”. Thế thì, cái hình búp sen ấy lại được kết bằng cỏ lác, kể cả “ lục lạc bằng đất ” đã phản ánh hoạt động và sinh hoạt của dân cư nơi ấy. Ta hiểu, khi vào phương Nam tùy vùng miền, con ngựa ô ấy lại Open với nhiều hình ảnh khác nhau, ví dụ điển hình ở Củ Chi ( TP HCM – Gia Định ) có văn bản : “ ngựa chiến tơ anh thắng bố tơi / Dây cương bằng lác / Lục lạc bằng đất / Hình dong một tấc / Chân đi lấc khấc / Cán roi bịt đồng chì / Đưa nàng về quê ”. Bố tơi là vải dệt bằng chỉ cây bố mà nhiều miếng vải đó đã rách nát rã / tơi chắp nối lại. Trong khi đó, còn có văn bản khác : “ Dây cương nhuộm thắm / cán roi anh bịt đồng thà ”. Cán roi ấy, không riêng gì “ bịt đồng thà ” mà còn có dị bản bịt đồng thòa / đồng chì / đồng xoàn / đồng đen / bằng vàng … tùy vùng miền đã chọn. Ở đây, đồng thòa vẫn Open với tần số nhiều nhất. Vậy “ đồng thòa ” là gì ? Theo Nước Ta tự điển ( 1970 ) : “ Vàng năm hay vàng bốn, kim loại tổng hợp có năm phần vàng và năm phần đồng hay bốn phần vàng và sáu phần đồng ”. Nói cách khác, kim loại tổng hợp này có cả vàng lẫn đồng, còn gọi “ đồng xứng ”.

Rồi, thế nào là “dây cương đằm thắm”?

Theo Đại Từ điển tiếng Việt ( 1999 ), đằm thắm là có tình cảm nồng nàn, sâu nặng, khó phai nhạt ; trước nữa, trong Nam lại hiểu đằm thắm / đầm thấm là “ tề chỉnh, vững vàng, dẽ dặt, không hốp tốp ” – như ông Huình Tịnh Paulus Của ghi nhận. Nếu vận dụng đằm thắm với dây cương, e ra khiên cưỡng quá chăng ? Như đã biết, điệu lý ngựa ô xuất phát từ Thừa Thiên-Huế, vậy ta hãy xét ngay từ khởi đầu “ ca từ ” của nó như thế nào ? Căn cứ những văn bản mà nhóm biên soạn Lý trong dân ca người Việt đã sưu tầm, ta thấy “ một bộ lá sen, dây cương nhuộm thắm ”. Và ở đầu cuối, tần số “ nhuộm thắm ” vẫn Open nhiều nhất. Rõ ràng, “ đắm thắm ” chỉ là cách hát trại từ “ nhuộm thắm ” mà ra.

(Trích Văn hóa Việt nhìn từ tiếng Việt, NXB Tổng hợp TP.HCM)

Bài viết liên quan