UEFA Champions League – Wikipedia tiếng Việt

Bài này viết về giải đấu dành cho nam. Đối với giải đấu dành cho nữ, xem UEFA Women’s Champions League

UEFA Champions League (viết tắt là UCL, còn được biết đến với tên gọi Cúp C1 châu Âu) là một giải đấu bóng đá cấp câu lạc bộ thường niên được tổ chức bởi Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) dành cho các câu lạc bộ có thứ hạng cao tại các giải vô địch quốc gia châu Âu. Đây là một trong những giải đấu bóng đá danh giá nhất trên thế giới và là giải đấu cấp câu lạc bộ danh giá nhất của bóng đá châu Âu, bao gồm các nhà vô địch của các giải vô địch quốc gia (đối với một số quốc gia còn có thêm một hoặc nhiều đội á quân) của các hiệp hội quốc gia.

Được giới thiệu vào năm 1955 với tên gọi European Champion Clubs’ Cup, giải ban đầu được diễn ra theo thể thức loại trực tiếp và chỉ dành cho các câu lạc bộ vô địch của mỗi giải vô địch quốc gia. Giải đấu lấy tên gọi hiện tại vào năm 1992, bổ sung thêm một vòng bảng thi đấu vòng tròn hai lượt và cho phép nhiều câu lạc bộ từ cùng một quốc gia tham dự.[1] Giải kể từ đó được mở rộng, và trong khi một số giải vô địch quốc gia của châu Âu vẫn chỉ có thể cho phép nhà vô địch của họ tham dự, những giải đấu hàng đầu giờ được phép cử đến bốn đội.[2][3] Các câu lạc bộ xếp ngay sau ở giải vô địch quốc gia mà không lọt vào Champions League được phép tham dự giải hạng hai UEFA Europa League, và kể từ năm 2021, các đội không đủ điều kiện tham dự UEFA Europa League sẽ lọt vào giải hạng ba mới có tên gọi là UEFA Europa Conference League.[4]

Theo thể thức hiện tại, UEFA Champions League được bắt đầu vào cuối tháng 6 với 1 vòng sơ loại, 3 vòng loại và 1 vòng play-off, tất cả đều được diễn ra theo thể thức hai lượt. 6 đội còn trụ lại tham dự vòng bảng cùng với 26 đội đã lọt vào thẳng. 32 đội bóng sẽ được chia làm 8 bảng 4 đội và thi đấu theo thể thức vòng tròn hai lượt. 8 đội nhất bảng và 8 đội nhì bảng tiến vào vòng đấu loại trực tiếp, đến khi chọn ra hai đội cuối cùng thi đấu trong trận chung kết vào cuối tháng 5 hoặc đầu tháng 6.[5] Đội vô địch Champions League sẽ lọt vào Champions League mùa giải sau, UEFA Super Cup và FIFA Club World Cup.[6][7]

Đã có 22 câu lạc bộ vô địch giải đấu, 12 trong số đó đã vô địch nhiều hơn một lần. [ 8 ] Các câu lạc bộ Tây Ban Nha có số lần vô địch nhiều nhất ( 18 lần ), theo sau là Anh ( 14 lần ) và Ý ( 12 lần ). Anh có nhiều đội vô địch nhất, với 5 câu lạc bộ đã từng vô địch giải đấu. Real Madrid là câu lạc bộ thành công xuất sắc nhất trong lịch sử dân tộc giải đấu với 13 lần vô địch. Chelsea là nhà đương kim vô địch, sau khi vượt mặt Manchester City 1 – 0 trong trận chung kết năm 2021 .

Giải đấu châu Âu đầu tiên là Challenge Cup, một cuộc thi giữa các câu lạc bộ ở Đế quốc Áo-Hung.[9] Cúp Mitropa, một cuộc thi được mô phỏng theo Challenge Cup, được tạo ra vào năm 1927, một ý tưởng của Hugo Meisl người Áo và các câu lạc bộ Trung Âu đấu với nhau.[10] Năm 1930, Coupe des Nations (tiếng Pháp: Nations Cup), nỗ lực đầu tiên để tạo ra một chiếc cúp cho các câu lạc bộ vô địch quốc gia châu Âu, tham gia và tổ chức bởi câu lạc bộ Thụy Sĩ Servette.[11] Được tổ chức tại Geneva, nó tập hợp mười nhà vô địch từ khắp các châu lục. Đội chiến thắng là Újpest của Hungary.[11] Các quốc gia châu Âu Latin đã cùng nhau thành lập Cúp Latin vào năm 1949.[12] Sau khi nhận được báo cáo từ các nhà báo của mình về Campeonato Sudamericano de Campeones năm 1948, Gabriel Hanot, biên tập viên của L’Équipe, đã đề xuất một giải thi đấu giữa các đội vô địch bóng đá các quốc gia.[13] Sau khi Stan Cullis tuyên bố Wolverhampton Wanderers là “Nhà vô địch thế giới” sau một trận giao hữu thành công vào những năm 1950, đặc biệt là chiến thắng giao hữu 3-2 trước Budapest Honvéd, Hanot cuối cùng đã thuyết phục được UEFA tham gia một giải đấu như vậy. Nó được hình thành ở thành phố Paris của Pháp vào năm 1955 với tên là Cúp các câu lạc bộ vô địch châu Âu.

220px Di stefano real madrid cf 28cropped29 Alfredo Di Stéfano vào năm 1959. Ông đã dẫn dắt Real Madrid giành năm Cúp C1 châu Âu liên tiếp từ năm 1956 đến 1960Cúp C1 châu Âu lần đầu diễn ra trong mùa giải 1955 – 56. [ 14 ] [ 15 ] Mười sáu đội tham gia : Milan ( Ý ), AGF Aarhus ( Đan Mạch ), Anderlecht ( Bỉ ), Djurgården ( Thụy Điển ), Gwardia Warszawa ( Ba Lan ), Hibernian ( Scotland ), Partizan ( Nam Tư ), PSV Eindhoven ( Hà Lan ), Rapid Wien ( Áo ), Real Madrid ( Tây Ban Nha ), Rot-Weiss Essen ( Tây Đức ), Saarbrücken ( Saar ), Servette ( Thụy Sỹ ), Sporting CP ( Bồ Đào Nha ), Stade de Reims ( Pháp ) và Vörös Lobogó ( Hungary ). [ 14 ] [ 15 ] Trận đấu Cúp C1 châu Âu tiên phong diễn ra vào ngày 4 tháng 9 năm 1955 và kết thúc với tỷ số hòa 3 đều giữa Sporting CP và Partizan. [ 14 ] [ 15 ] Bàn thắng tiên phong trong lịch sử dân tộc Cúp C1 châu Âu được ghi bởi João Baptista Martins của Sporting CP. [ 14 ] [ 15 ] Trận chung kết đã diễn ra tại sân hoạt động Công viên những Hoàng tử giữa Stade de Reims và Real Madrid. [ 14 ] [ 15 ] [ 16 ] Đội bóng của Tây Ban Nha đã lội ngược dòng giành thắng lợi 4-3 nhờ những bàn thắng của Alfredo Di Stéfano và Marquitos, cũng như cú đúp của Héctor Rial. [ 14 ] [ 15 ] [ 16 ] 220px Beufica tegen Real Madrid 5 3 28blijdschap van de speler2C Bestanddeelnr 913 8511 Eusébio ăn mừng chiến thắng Cúp C1 châu Âu năm 1962 của BenficaReal Madrid đã bảo vệ thành công xuất sắc chiếc cúp mùa tới trên sân nhà của họ, Santiago Bernabéu, khi cạnh tranh đối đầu với Fiorentina. [ 17 ] [ 18 ] Sau hiệp một không biết stress, Real Madrid đã ghi hai bàn sau sáu phút để vượt mặt đội bóng Ý. [ 17 ] [ 18 ] Năm 1958, Milan đã không tận dụng thành công xuất sắc sau khi vượt lên dẫn trước hai lần, sau lại để Real Madrid cân đối. [ 19 ] [ 20 ] Trận chung kết được tổ chức triển khai tại sân hoạt động Heysel đã đến hiệp phụ, nơi Francisco Gento ghi bàn thắng trận đấu để cho phép Real Madrid củng cố thương hiệu chức vô địch lần thứ ba liên tục. [ 19 ] [ 20 ] Trong trận tái đấu ở trận chung kết, Real Madrid đã phải đương đầu với Stade Reims tại trận đấu ở Neckarstadion cho trận chung kết mùa giải 1958 – 59, thuận tiện giành thắng lợi 2-0. [ 21 ] [ 22 ] Phía Tây Đức, Eintracht Frankfurt trở thành đội bóng không phải thuộc một nước latin tiên phong lọt vào trận chung kết Cúp C1 châu Âu. [ 23 ] [ 24 ] Trận chung kết mùa giải 1959 – 60 vẫn giữ kỷ lục về số bàn thắng ghi được nhiều nhất, khi Real Madrid vượt mặt Eintracht Frankfurt 7-3 ở Hampden Park, nhờ cú poker của Ferenc Puskás và cú hat-trick của Alfredo Di Stéfano. [ 23 ] [ 24 ] Đây là thương hiệu thứ năm liên tục của Real Madrid, một kỷ lục vẫn còn sống sót đến ngày thời điểm ngày hôm nay. [ 8 ] Triều đại của Real Madrid kết thúc ở mùa giải 1960 – 61 khi kình địch Barcelona truất ngôi họ ở vòng tiên phong. [ 25 ] [ 26 ] Tuy nhiên, chính Barcelona bị vượt mặt trong trận chung kết bởi đội bóng Bồ Đào Nha là Benfica với tỷ số 3-2 tại Sân hoạt động Wankdorf. [ 25 ] [ 26 ] [ 27 ] Được củng cố bởi Eusébio, Benfica đã vượt mặt Real Madrid 5-3 tại sân hoạt động Olympic ở Amsterdam và giữ cúp cho mùa thứ hai liên tục. [ 27 ] [ 28 ] [ 29 ] Benfica muốn lặp lại thành công xuất sắc của Real Madrid nhưng cú đúp từ cầu thủ người Brazil gốc Ý Jose Altafini tại sân hoạt động Wembley đã trao chiến lợi phẩm lại cho Milan, khiến chiếc cúp rời khỏi bán đảo Iberia lần tiên phong. [ 30 ] [ 31 ] [ 32 ] Internazionale đánh bại một lão tướng – Real Madrid 3-1 trong trận đấu ở Ernst-Happel-Stadion để giành thắng lợi trong mùa giải 1963 – 64. [ 33 ] [ 34 ] [ 35 ] Danh hiệu ở lại thành phố Milan trong năm thứ ba liên tục sau khi Inter vượt mặt Benfica 1-0 tại sân nhà của họ, San Siro. [ 36 ] [ 37 ] [ 38 ]

Từ mùa bóng 1992-93, giải được đổi tên thành UEFA Champions League. Và đến mùa bóng 1997-98, có một sự thay đổi lớn trong điều lệ giải, ngoài các đội vô địch quốc gia, các đội có thứ hạng cao trong mỗi giải vô địch (số lượng đội của mỗi quốc gia dựa theo bảng xếp hạng các thành viên UEFA trong 5 năm gần nhất) cũng có quyền tham dự. Mùa bóng năm 2005-06 và 2006-07, 3 quốc gia Tây Ban Nha, Anh và Ý (từ mùa bóng 2013-14, Ý chỉ còn 3 đội tham dự, vì Đức đã lấy mất một suất của Ý), được quyền cử 4 đội tham gia.

50px Gnome mime audio openclipart.svg
Phần điệp khúc của đoạn nhạc hiệu UEFA Champions League .
Trục trặc khi nghe tập tin âm thanh này? Xem hướng dẫn.
” Phép thuật … nó ma thuật hơn toàn bộ những thứ khác. Khi bạn nghe bài nhạc hiệu, nó điệu đàng bạn ngay lập tức. ”
– Zinedine Zidane [ 39 ]

Nhạc hiệu UEFA Champions League, có tên chính thức là “Champions League”, được viết bởi Tony Britten soạn theo phong cách của nhà soạn nhạc người Đức George Frideric Handel (1685-1759) với âm hưởng chủ yếu theo bài Zadok the Priest (một trong những bài hát theo hướng đăng quang của ông).[40][41] UEFA ủy nhiệm cho Britten vào năm 1992 để viết một bài nhạc hiệu và tác phẩm được trình diễn bởi Dàn nhạc Hoàng gia Philharmonic của London.[40] Trang web chính thức của UEFA tuyên bố, hiện nay nhạc hiệu gần như mang tính biểu tượng như chiếc cúp.”[40]

220px Beginning Arsenal Sevilla Nhạc nền Champions League được sử dụng trước khi mở màn mỗi trận đấu khi hai đội được xếp hàng trong khi logo Champions League căng ra ở vòng tròn TT .Điệp khúc chứa ba ngôn từ chính thức được UEFA sử dụng : tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Pháp. [ 42 ] Khoảnh khắc cao trào được đặt thành câu cảm thán ‘ Die Meister ! Die Besten ! Les Grandes Équipes ! The Champions ! ’. [ 43 ] Điệp khúc của quốc ca được phát trước mỗi trận đấu của UEFA Champions League khi hai đội được xếp hàng, cũng như ở đầu và cuối chương trình phát sóng trên truyền hình về những trận đấu. Ngoài bài nhạc hiệu, còn có nhạc dẫn, trong đó có những phần của bài nhạc hiệu, được chơi khi những đội vào sân. [ 44 ] Bài nhạc hiệu hoàn hảo dài khoảng chừng ba phút và có hai câu thơ ngắn cùng điệp khúc. [ 42 ]

Các lần hát đặc biệt được trình diễn trực tiếp tại Chung kết Champions League với lời bài hát bằng các ngôn ngữ khác, đổi sang ngôn ngữ của quốc gia chủ nhà cho phần điệp khúc. Các phiên bản này đã được thực hiện bởi Andrea Bocelli (Ý) (Rome 2009, Milan 2016 và Cardiff 2017), Juan Diego Flores (Tây Ban Nha) (Madrid 2010), All Angels (Wembley 2011), Jonas Kaufmann, David Garrett (Munich 2012) và Mariza (Lisbon 2014). Trong trận chung kết năm 2013 tại sân vận động Wembley, đoạn điệp khúc đã được chơi hai lần. Tại Kiev 2018, phiên bản nhạc cụ của hợp xướng đã được chơi bởi 2Cellos.[45] Bài quốc ca đã được phát hành thương mại với phiên bản gốc trên iTunes và Spotify với tên Champions League Theme. Vào năm 2018, nhà soạn nhạc Hans Zimmer đã phối lại giai điệu với rapper Vince Staples cho trò chơi video FIFA 19 của EA Sports, FIFA và cũng như trong đoạn giới thiệu của trò chơi.[46]

Chiếc cúp và huy chương[sửa|sửa mã nguồn]

154px Trofeo UEFA Champions League Chiếc cúp UEFA Champions LeagueCúp cao 74 cm, nặng 8 kg và đắt giá nhất khoảng chừng 200.000 franc. Đội đoạt cúp còn được nhận 20 Huy chương vàng và một bản sao của chiếc cúp với kích cỡ nhỏ hơn, đồng thời có quyền giữ chiếc cúp thật trong vòng một năm trước khi trao lại cho UEFA ” trong thực trạng nguyên xi ” ( nếu hư hại sẽ bị phạt nặng ), một tháng trước trận chung kết lần sau .Mỗi năm, đội thắng lợi được trao Cúp vô địch châu Âu, phiên bản hiện tại đã được trao từ năm 1967. Trước năm 2009, nếu một đội 3 lần liên tục đoạt chức vô địch, hoặc 5 lần khác nhau, đội có quyền chiếm hữu vĩnh viễn chiếc cúp và lúc này UEFA phải làm một chiếc cúp khác trọn vẹn giống hệt ( UEFA luôn giữ lại bản gốc ). Tính tới thời gian hiện tại, có 5 câu lạc bộ có được vinh dự này là : Real Madrid ( 13 lần vô địch ) ; A.C. Milan ( 7 lần ) ; FC Bayern München ( 6 lần, trong đó 3 lần liên tục ) ; Liverpool FC ( 6 lần ) ; Ajax Amsterdam ( 4 lần, trong đó 3 lần liên tục ). Kể từ năm 2009, UEFA sẽ giữ vĩnh viễn bản gốc của chiếc cúp, do vậy một câu lạc bộ nếu đạt đủ 5 thương hiệu vô địch, hoặc vô địch 3 lần liên tục thay vào đó sẽ nhận được một bản sao của chiếc cúp với cùng size và tên của nhà vô địch được khắc trên đó, cùng với phù hiệu cho những người thắng lợi. Đó là một logo nhỏ hình elip, nền xám, logo là một hình phác thảo một phần của chiếc cúp với viền trắng, ở giữa là số thương hiệu vô địch C1 của câu lạc bộ. Năm câu lạc bộ đã kể trên, cùng với F.C. Barcelona với chức vô địch thứ 5 vào mùa giải năm trước – 15 sẽ vinh dự được gắn phù hiệu cho những người thắng lợi trên tay trái của áo tranh tài mãi mãi về sau, mỗi khi tranh tài tại UEFA Champions League .Tính đến mùa giải 2012 – 13, 40 huy chương vàng được trao cho những đội vô địch Champions League và 40 huy chương bạc cho á quân. [ 47 ] Bắt đầu từ mùa giải năm ngoái – 16, UEFA trao 2 triệu € cho mỗi đội thắng lợi và 3 triệu € cho mỗi đội bị loại khỏi vòng play-off. Với đội lọt vào vòng bảng, họ sẽ nhận thêm 12 triệu € từ UEFA. Đội thắng trong mỗi trận vòng bảng nhận thêm 1,5 triệu € và nếu hòa nhận thêm 500.000 €. Đối với vòng 16 đội, UEFA thưởng cho mỗi đội 6 triệu €, và so với vòng tứ kết mỗi đội nhận thêm 6,5 triệu €. Mỗi đội trong bốn đội vào bán kết nhận 7,5 triệu €, và đội Á quân được thưởng 11 triệu €. Đội vô địch được UEFA thưởng 15 triệu €. [ 48 ]Về bản quyền truyền hình, những đội bóng sẽ nhận được một phần trong khoản tiền 255,5 triệu bảng, được phân chia tương thích với giá trị của mỗi thị trường truyền hình tại vương quốc đó .Thay đổi đáng kể nhất là từ mùa 2018 – 19, giải đấu mê hoặc nhất lục địa già sẽ tăng quy mô tiền thưởng tổng số từ 2,3 tỷ € lên thành 3,4 tỷ € .Ngoài ra, thành tích trong những kỳ Champions League trước đây cũng sẽ được cộng dồn thành tiền thưởng. Bảng xếp hạng lịch sử vẻ vang kiểu này sẽ chiếm tới 528 triệu € tiền thưởng .Kể từ mùa giải 2018 – 19, số tiền thưởng cố định và thắt chặt được trả cho những câu lạc bộ như sau : [ 49 ]

  • Vòng sơ loại: 230.000 €
  • Vòng loại đầu tiên: 280.000 €
  • Vòng loại thứ hai: 380.000 €
  • Vòng loại thứ ba: 480.000 € (Chỉ dành cho các câu lạc bộ bị loại khỏi việc tranh cúp vô địch, vì các câu lạc bộ bị loại khỏi đủ điều kiện tham gia trực tiếp vòng bảng UEFA Europa League và do đó được hưởng lợi từ hệ thống phân phối của nó.)
  • Thua trận play-off: 2.000.000 €
  • Thắng trận play-off: 3.000.000 €
  • Tiền thưởng chung cho mỗi đội vòng bảng: 15.250.000 €
  • Đội thắng trong 1 trận vòng bảng: 2.700.000 €
  • Đội hòa trong 1 trận vòng bảng: 900.000 €
  • Vòng 16 đội: 9.500.000 €
  • Vòng tứ kết: 10.000.000 €
  • Bán kết: 12.000.000 €
  • Á quân: 15.000.000 €
  • Giành chiến thắng trong trận Chung kết hay nhà vô địch: 19.000.000 €

Điều này có nghĩa là một câu lạc bộ hoàn toàn có thể kiếm được 82.450.000 € tiền thưởng theo cấu trúc này, không tính CP của những vòng đấu loại, vòng play-off hoặc nhóm thị trường .Một phần nhiều lệch giá phân phối từ UEFA Champions League được link với ” nhóm thị trường “, phân phối được xác lập bởi giá trị của thị trường truyền hình ở mỗi vương quốc. Đối với mùa giải năm trước – 15, Juventus, người đã là á quân, đã kiếm được gần 89,1 triệu euro, trong đó 30,9 triệu euro là tiền thưởng, so với 61,0 triệu euro kiếm được từ Barcelona, ​ ​ người đã giành thắng lợi và trong đó 36,4 triệu euro tiền thưởng. [ 50 ]Doanh thu và doanh thu của UEFA Champions League đến từ quảng cáo, vé trận đấu … cũng như bản quyền truyền hình tại mỗi vương quốc sẽ được dùng để chia thưởng cho những câu lạc bộ cũng như liên đoàn những vương quốc có câu lạc bộ tham gia .UEFA ( 10 tháng 8 năm 2012 ) cũng ước tính lệch giá từ UEFA Champions League và UEFA Super Cup là 1,34 tỷ €. [ 48 ]

Các đội tham gia và thể thức tranh tài[sửa|sửa mã nguồn]

Kể từ khi sinh ra với tên gọi European Champion Clubs ‘ Cup ( tức Cúp C1 ), giải đấu này chỉ dành cho những đội đoạt chức vô địch vương quốc tại giải vô địch hạng cao nhất của những vương quốc châu Âu là thành viên của UEFA và đội đương kim vô địch của mùa giải trước – đang giữ cúp .Vì vậy, nếu một đội bóng không bảo vệ được thương hiệu vô địch trong nước nhưng đoạt được cúp C1 thì năm sau liên tục được dự giải và vương quốc đó sẽ là nước duy nhất có 2 đội dự Cúp C1. Nếu đội vô địch Cúp C1 đồng thời đoạt ” cú đúp ” – vô địch cả giải trong nước thì vương quốc đó vẫn chỉ có 1 đội dự cúp này như những nước khác. Trong cả trường hợp đội vô địch Cúp C1 bị xuống hạng ở giải trong nước vẫn được dự giải này trong mùa bóng tiếp theo .Thể thức duy nhất mà UEFA vận dụng từ năm 1955 tới năm 1991 là phân cặp đấu loại trực tiếp từ vòng đầu tới vòng sau cuối. Vòng đầu có 32 đội, lần lượt qua 5 lượt tới trận chung kết còn 2 đội .Mùa bóng 1986 – 87, vòng 1 Cúp C1 chỉ có 31 đội tham gia do sự cố chính trị làm vắng mặt 1 thành viên. Do đó đội đương kim vô địch là Steaua Bucharest của Rumani được vào thẳng vòng 2 .
Ở mùa giải 1991 – 92, Cúp C1 vẫn mang tên là European Champion Clubs ‘ Cup như trước đây, nhưng UEFA đã thử nghiệm một thể thức tranh tài mới. 8 đội lọt vào tứ kết được chia làm hai bảng tranh tài vòng tròn một lượt ( vẫn gồm 2 lượt trận sân nhà sân khách cho mỗi cặp đấu ), chọn ra 2 đội đầu bảng vào tranh tài trận chung kết .Mùa giải 1992 – 93, giải bóng đá này chính thức được đổi tên thành UEFA Champions League – giải đấu của những nhà vô địch. Lúc này, vòng tứ kết vẫn gồm 8 đội nhưng lại có thêm vòng bán kết. Trận bán kết diễn ra giữa đội nhất bảng này gặp nhì bảng kia, nhưng chỉ tranh tài một trận duy nhất trên sân của những đội nhất bảng .Real Madrid là đội bóng giữ kỷ lục lâu bị loại ở Cúp C1 nhất. Tính từ khi tham gia năm 1955 tới năm 1960, Real Madrid liên tục vô địch cúp này 5 năm và chưa từng bị loại. Tới mùa bóng 1960 – 61, Real cùng FC Barcelona là đội vô địch trong nước cùng đại diện thay mặt cho Tây Ban Nha dự giải. Do thời đó chưa có lao lý hạt giống nên việc bốc thăm ngẫu nhiên khiến Real Madrid và Barcelona gặp nhau ngay vòng đầu. Kết quả Barcelona đã loại Real bằng hiệu quả hoà 2-2 ở sân Bernabeu và thắng 2-1 ở sân Nou Camp. Đó là lần tiên phong Real Madrid bị loại ở Cúp C1 .
UEFA lan rộng ra số đội tham gia, được cho phép những nước có thành tích cao nhất được cử 2 đại diện thay mặt tham gia – đội vô địch và đội á quân. Do số đội tăng lên, số đội dự vòng bảng là 16 và do đó có bốn bảng sau 2 vòng đầu. 8 đội đứng đầu bốn bảng lọt vào vòng tứ kết, đấu loại trực tiếp tới chung kết .Trong những năm tiếp theo, do sức ép từ phía nhóm G-14, những đội bóng mạnh và phong phú ở châu Âu, UEFA lan rộng ra đối tượng người dùng tham gia Champions League hơn, được cho phép 3 vương quốc có thành tích cao nhất được cử tới 4 đội tham gia, những nước có thành tích thấp hơn có số đội tham gia giảm dần, để tạo điều kiện kèm theo cho những đội bóng giàu có thời cơ đoạt Cúp này ngay cả khi không vô địch trong nước nhiều năm liền .Các vòng sơ loại cho những đội yếu từ những nước có thông số điểm thấp được sắp xếp từ mùa hè để khởi đầu vào tháng 9, vòng 1 khởi đầu là vòng đấu bảng với số đội tham gia là 32 đội tại tám bảng đấu .Quy định lan rộng ra đối tượng người dùng tham gia này khiến cho giải thực ra không còn đúng với tên gọi ” giải đấu của những nhà vô địch ” – Champions League nữa .
Bắt đầu từ mùa giải năm ngoái – 16, đương kim vô địch UEFA Europa League sẽ được phép tham gia UEFA Champions League, nhưng chỉ mở màn từ vòng play-off, nhằm mục đích bảo vệ năng lực tham gia vòng bảng của những đội bóng cạnh tranh đối đầu khác. Đội vô địch UEFA Europa League sẽ được tham gia UEFA Champions League ngay từ vòng bảng với điều kiện kèm theo đội vô địch UEFA Champions League đã giành vé từ đường quốc nội. Do đó, số lượng tối đa đội bóng đến từ cùng một vương quốc hoàn toàn có thể tham gia Champions League cũng đã được tăng từ bốn lên năm đội .

Từ mùa giải 2018–19

Số đội đá play-off sẽ giảm từ 20 đội xuống còn 12 đội nghĩa là 4 đội xếp thứ 4 từ các giải vô địch quốc gia xếp hạng từ 1 đến 4 sẽ được vào thẳng vòng bảng.

  • Thay đổi người: Kể từ vòng knock-out, các HLV có thể thay cầu thủ thứ 4 trong trường hợp đội bóng của họ phải đá hiệp phụ.
  • Thời gian: Thay vì diễn ra vào 19h45 (giờ GMT) như trước đây, các trận đấu có thể bắt đầu vào 2 khung giờ mới là 17h55 (GMT) và 20h00 (GMT).
  • Số lượng cầu thủ đăng ký cho mỗi trận: UEFA cho phép các đội tăng số lượng cầu thủ đăng ký cho mỗi trận từ 18 lên thành 23. Như vậy sau khi bố trí đội hình xuất phát các HLV còn tới 12 sự lựa chọn để tung vào sân lúc cần.
  • Cầu thủ mới: Sau vòng bảng, các đội có thể đăng ký thêm 3 cầu thủ mới mà không có bất kỳ hạn chế nào.

432px UEFA members Champs League group stage

 Quốc gia thành viên UEFA có đại diện ở vòng bảng

 Quốc gia thành viên UEFA chưa có đại diện ở vòng bảng

Bản đồ những vương quốc UEFA có những đội lọt vào vòng bảng UEFA Champions LeagueKể từ mùa giải 2009 – 10, UEFA Champions League mở màn với vòng đấu bảng gồm 32 đội, trước đó là hai vòng loại ‘ luồng ‘ cho những đội không được vào thẳng giải đấu. Hai luồng được phân loại giữa những đội đủ điều kiện kèm theo nhờ vô địch giải đấu trong nước và những đội đủ điều kiện kèm theo nhờ đứng từ hạng 2 đến hạng 4 trong bảng xếp hạng giải vô địch vương quốc trong nước của mỗi đội bóng .Số lượng đội bóng mà mỗi hiệp hội được tham gia UEFA Champions League dựa trên những thông số do UEFA đưa ra cho những hiệp hội. Các thông số này được xét bởi tác dụng của những câu lạc bộ đại diện thay mặt cho mỗi hiệp hội trong mùa giải Champions League và UEFA Europa League / UEFA Cup trước đó. Hệ số của hiệp hội càng cao, càng có nhiều đội đại diện thay mặt cho hiệp hội tham gia Champions League và được hưởng lợi vì có càng ít vòng đấu loại mà những đội của hiệp hội phải tranh tài .Ngoài những tiêu chuẩn trên, bất kể câu lạc bộ nào cũng phải được hiệp hội vương quốc của mình cấp phép tham gia Champions League. Để có được giấy phép này, câu lạc bộ phải cung ứng 1 số ít nhu yếu về tiêu chuẩn sân vận động, hạ tầng và nguồn kinh tế tài chính .Mùa giải 2005 – 06, Liverpool và Artmedia Bratislava đã trở thành những đội tiên phong lọt vào vòng bảng Champions League sau khi chơi ở cả ba vòng loại. Trong mùa 2008 – 09, cả BATE Borisov và Anorthosis Famagusta đều đạt được thành tích tương tự như. Real Madrid đang giữ kỷ lục Open liên tục nhiều nhất ở vòng bảng, có đủ điều kiện kèm theo 22 lần liên tục ( 1997 – nay ). Họ bị bám sát bởi Arsenal với 19 lần tham gia ( 1998 – năm nay ) [ 51 ] và Manchester United là 18 lần ( 1996 – 2013 ). [ 52 ]Từ năm 2003 đến 2008, không có sự độc lạ nào được đưa ra giữa nhà vô địch và không vô địch trong vòng loại. 16 đội xếp hạng số 1 trải rộng trên những giải đấu lớn nhất trong nước đủ điều kiện kèm theo trực tiếp cho vòng bảng giải đấu. Trước đó, ba vòng đấu loại trực tiếp sơ bộ để vượt mặt những đội còn lại .Một ngoại lệ so với mạng lưới hệ thống vòng loại châu Âu thường thì đã xảy ra vào năm 2005, sau khi Liverpool vô địch Champions League năm trước, nhưng không triển khai xong vị trí vòng sơ loại Champions League tại Premier League mùa đó. UEFA đã dành sự phân phối đặc biệt quan trọng cho Liverpool để tham gia Champions League, mang lại cho Anh năm vị trí vòng sơ loại. [ 53 ] UEFA sau đó phán quyết rằng những nhà vô địch bảo vệ đủ điều kiện kèm theo cho cuộc đua năm sau bất kể thứ hạng giải đấu trong nước của họ. Tuy nhiên, so với những giải đấu có bốn đội tham gia Champions League, điều này có nghĩa là, nếu người thắng lợi Champions League nằm ngoài bốn đội số 1 của giải đấu trong nước, nó sẽ đủ điều kiện kèm theo để trả giá cho đội xếp thứ tư trong giải đấu. Cho đến mùa năm ngoái – 16, không có hiệp hội nào hoàn toàn có thể có nhiều hơn bốn đội tham gia Champions League. [ 54 ] Vào tháng 5 năm 2012, Tottenham Hotspur đứng ở vị trí thứ tư tại Premier League mùa giải 2011 – 12, hơn 2 bậc so với Chelsea, nhưng không đủ điều kiện kèm theo cho Champions League mùa 2012 – 13. [ 55 ] Tottenham đã bị hạ bệ ở UEFA Europa League 2012 – 13. [ 55 ]Vào tháng 5 năm 2013, [ 56 ] người ta đã quyết định hành động rằng, mở màn từ mùa năm ngoái – 16 ( và liên tục tối thiểu là cho đến mùa giải 2017 – 18 ), những đội thắng lợi UEFA Europa League mùa trước sẽ đủ điều kiện kèm theo tham gia UEFA Champions League, tham gia từ vòng play-off và bước vào vòng bảng. [ 57 ]Vào năm 2007, Michel Platini, quản trị UEFA, đã yêu cầu lấy một vị trí trong ba giải đấu với bốn đội tham gia và phân chia nó cho người thắng lợi cúp vương quốc đó. Đề xuất này đã bị khước từ trong một cuộc bỏ phiếu tại cuộc họp của Hội đồng Chiến lược UEFA. [ 58 ] Tuy nhiên, trong cùng một cuộc họp, người ta đã chấp thuận đồng ý rằng đội xếp thứ ba trong ba giải đấu số 1 sẽ nhận được vòng loại tự động hóa cho vòng bảng, thay vì vào vòng loại thứ ba, trong khi đội hạng tư sẽ vào vòng chơi tắt vòng cho những đội không vô địch, bảo vệ một đối thủ cạnh tranh từ một trong 15 giải đấu số 1 châu Âu. Đây là một phần trong kế hoạch của Platini nhằm mục đích tăng số lượng đội đủ điều kiện kèm theo trực tiếp vào vòng bảng, đồng thời tăng số lượng đội từ những vương quốc xếp hạng thấp hơn ở vòng bảng. [ 59 ]Năm 2012, Arsène Wenger gọi việc đủ điều kiện kèm theo tham gia Giải vô địch bằng cách triển khai xong bốn vị trí số 1 tại Giải Ngoại hạng Anh với tên gọi ” Cúp thứ 4 “. Cụm từ được đặt ra sau một cuộc hội thảo chiến lược trước trận đấu khi ông được hỏi về việc Arsenal không có cúp sau khi thua FA Cup. Ông ấy nói ” Chiếc cúp tiên phong là triển khai xong trong top bốn “. [ 60 ] Tại Đại hội cổ đông 2012 của Arsenal, Wenger cũng được trích dẫn : ” Đối với tôi có năm thương hiệu mỗi mùa : Premier League, Champions League, thứ ba là đủ điều kiện kèm theo cho Champions League … ” [ 61 ]

Vòng bảng và vòng đấu loại trực tiếp[sửa|sửa mã nguồn]

Giải đấu mở màn với vòng bảng gồm 32 đội, được chia thành tám bảng. Hạt giống được sử dụng trong khi thực thi bốc thăm cho tiến trình này, trong khi những đội từ cùng một vương quốc hoàn toàn có thể không nằm cùng một bảng đấu với nhau. Đội thắng lợi và á quân từ mỗi bảng sau đó tiến vào vòng tiếp theo. Đội đứng thứ ba bước vào UEFA Europa League .Đối với tiến trình này, đội thắng lợi từ một bảng tranh tài với đội á quân từ một bảng khác và những đội từ cùng một hiệp hội hoàn toàn có thể không được cạnh tranh đối đầu với nhau. Từ vòng tứ kết trở đi, việc bốc thăm là trọn vẹn ngẫu nhiên. Giải đấu sử dụng luật bàn thắng sân khách. [ 62 ]Vòng bảng được chơi từ tháng 9 đến tháng 12, trong khi vòng đấu loại trực tiếp mở màn vào tháng Hai. Các trận đấu loại trực tiếp được chơi ở sân khách và sân nhà, ngoại trừ trận chung kết. Trận chung kết thường được tổ chức triển khai vào hai tuần cuối tháng Năm hoặc vào những ngày đầu tháng Sáu, đã xảy ra trong ba năm số lẻ liên tục kể từ năm năm ngoái .

Xếp hạng vòng bảng[sửa|sửa mã nguồn]

Đội thắng được 3 điểm, hòa 1 điểm, thua 0 điểm. Trong trường hợp có hai hay nhiều đội bằng điểm nhau sau khi vòng đấu bảng kết thúc, việc phân định ngôi thứ sẽ dựa trên những tiêu chuẩn sau :

  • Giành được nhiều điểm hơn trong các trận đối đầu trực tiếp.
  • Có hiệu số bàn thắng bại cao hơn trong các trận đối đầu trực tiếp.
  • Ghi được nhiều bàn thắng trên sân của đối phương hơn trong các trận đối đầu trực tiếp.
  • Có hiệu số bàn thắng bại của tất cả các trận đấu trong bảng cao hơn.
  • Ghi được nhiều bàn thắng hơn trong tất cả các trận đấu trong bảng.
  • Hệ số điểm của quốc gia vào thời điểm đầu mùa bóng (Hệ số này do UEFA thiết lập và xếp hạng). Đội đứng thứ ba tại mỗi bảng sẽ chuyển xuống chơi vòng 32 đội tại UEFA Europa League.

Sau đây là list mặc định. [ 63 ]

Đội được xếp thẳng vào vòng thi đấu

Đội được thi đấu do đã vượt qua vòng trước

Vòng sơ loại

4 đội vô địch từ các quốc gia xếp hạng 52-55

Vòng loại thứ nhất
(34 đội)

  • 33 đội vô địch từ các quốc gia xếp hạng 18-51 (trừ Liechtenstein)

1 đội vượt qua vòng sơ loại

Vòng loại thứ hai
(26 đội)

Nhóm những đội vô địch
(20 đội)

  • 3 nhà vô địch từ các quốc gia xếp hạng 15-17
  • 17 đội chiến thắng từ vòng loại thứ nhất

Nhóm những đội không vô địch
(6 đội)

  • 6 đội á quân từ các quốc gia xếp hạng 10-15

Vòng loại thứ ba

Nhóm những đội vô địch
(12 đội)

  • 2 đội vô địch từ các quốc gia xếp hạng 13-14
  • 10 đội chiến thắng từ vòng loại thứ hai nhóm vô địch

Nhóm những đội không vô địch
(8 đội)

  • 3 đội á quân từ các quốc gia xếp hạng 7–9
  • 2 đội đứng thứ ba từ quốc gia xếp hạng 5-6
  • 3 đội chiến thắng từ vòng loại thứ 2 nhóm không vô địch

Vòng play-off

Nhóm những đội vô địch
(8 đội)

  • 2 nhà vô địch từ các quốc gia xếp hạng 11-12
  • 6 đội chiến thắng từ vòng loại thứ ba trong nhóm những đội vô địch

Nhóm những đội không vô địch
(4 đội)

  • 4 đội chiến thắng từ vòng loại thứ ba trong nhóm những đội không vô địch

Vòng bảng
(32 đội – chia làm tám bảng đấu)

  • 10 nhà vô địch từ các quốc gia xếp hạng 1-10
  • 6 đội á quân từ các quốc gia xếp hạng 1-6
  • 4 đội đứng thứ ba từ các quốc gia xếp hạng 1-4
  • 4 đội đứng thứ tư từ các quốc gia xếp hạng 1-4
  • Đương kim vô địch UEFA Champions League
  • Đương kim vô địch UEFA Europa League
  • 4 đội chiến thắng từ vòng play-off trong nhóm những đội vô địch
  • 2 đội chiến thắng từ vòng play-off trong nhóm những đội không vô địch

Vòng knock-out
(16 đội)

  • 8 đội nhất bảng trong tám bảng đấu
  • 8 đội nhì bảng trong tám bảng đấu
Các thay đổi sẽ được đưa vào danh sách truy cập ở trên nếu đương kim vô địch UEFA Champions League và/hoặc UEFA Europa League có đủ điều kiện tham gia giải đấu thông qua các giải đấu nội địa của họ.

  • Nếu các nhà vô địch UEFA Champions League đủ điều kiện tham dự vòng bảng qua giải đấu nội địa của họ, nhà vô địch của quốc gia xếp hạng 11 (Áo vào mùa 2019-20) sẽ bước vào vòng đấu bảng, và các nhà vô địch của các hiệp hội được xếp hạng cao nhất trong các vòng đấu trước cũng sẽ được thăng hạng.
  • Nếu đội vô địch UEFA Europa League đủ điều kiện tham gia vòng bảng qua giải đấu trong nước, đội bóng thứ ba của hiệp hội 5 (Pháp) sẽ bước vào vòng bảng, và những đội không phải là vô địch của các hiệp hội được xếp hạng cao nhất trong các vòng đấu trước cũng sẽ được sắp xếp cho phù hợp.
  • Nếu đội vô địch UEFA Champions League và/hoặc UEFA Europa League không đủ điều kiện tham dự vòng bảng thông qua giải đấu trong nước thì vị trí của họ trong vòng bảng sẽ được bỏ trống, và các đội của các hiệp hội được xếp hạng cao nhất trong các vòng đấu trước sẽ được thăng hạng.
  • Một hiệp hội có thể có tối đa năm đội trong giai đoạn vòng bảng. Do đó, nếu cả hai đội giữ danh hiệu Champions League và Europa League đều đến từ cùng một hiệp hội, đội đứng thứ tư của giải đấu trong nước sẽ không thi đấu ở Champions League và thay vào đó thi đấu tại Europa League (trường hợp này thuộc về Anh Quốc 2019-20).
  • Liechtenstein không có giải vô địch quốc gia chỉ có Cúp quốc gia nên chỉ được tham dự UEFA Europa League.

Đơn vị trọng tài UEFA được chia thành năm loại dựa trên kinh nghiệm tay nghề. Một trọng tài khởi đầu được đưa vào Hạng 4 ngoại trừ những trọng tài đến từ Pháp, Đức, Anh, Ý hoặc Tây Ban Nha. Các trọng tài từ năm vương quốc này thường tự do với những trận đấu chuyên nghiệp số 1 và do đó được đặt trực tiếp vào Loại 3. Mỗi màn trình diễn của trọng tài được quan sát và nhìn nhận sau mỗi trận đấu ; khuôn khổ của anh ấy hoàn toàn có thể được sửa đổi hai lần mỗi mùa, nhưng trọng tài không hề được thăng hạng trực tiếp từ Hạng mục 3 lên Hạng mục Ưu tú. [ 64 ] Phối hợp với Đơn vị trọng tài UEFA, Ủy ban trọng tài UEFA chịu nghĩa vụ và trách nhiệm chỉ định trọng tài cho những trận đấu. Các trọng tài được chỉ định dựa trên những trận đấu, màn trình diễn và mức độ thể lực trước đó. Để ngăn ngừa sự thiên vị, Champions League có tính quốc tịch. Không trọng tài nào hoàn toàn có thể có cùng quốc tịch với bất kể câu lạc bộ nào trong những bảng. Các chỉ định về trọng tài, được yêu cầu bởi Đơn vị trọng tài UEFA, được gửi đến Ủy ban trọng tài UEFA để được luận bàn hoặc sửa đổi. Sau khi có sự đồng thuận, tên của trọng tài được chỉ định sẽ được giữ bí hiểm cho đến hai ngày trước trận đấu với mục tiêu giảm thiểu ảnh hưởng tác động của công chúng. [ 64 ] Kể từ năm 1990, một trọng tài quốc tế của UEFA không hề vượt quá 45 tuổi. Sau khi bước sang tuổi 45, một trọng tài phải từ chức vào cuối mùa giải. Giới hạn độ tuổi được thiết lập để bảo vệ mức độ thể dục. Ngày nay, những trọng tài UEFA Champions League được nhu yếu phải vượt qua bài kiểm tra thể lực thậm chí còn để được xem xét ở Lever quốc tế. [ 64 ] Giống như FIFA World Cup, UEFA Champions League được hỗ trợ vốn bởi một nhóm những tập đoàn lớn đa vương quốc, trái ngược với nhà hỗ trợ vốn chính duy nhất thường thấy trong những giải đấu số 1 vương quốc. Khi Champions League được xây dựng vào năm 1992, người ta đã quyết định hành động tối đa tám công ty nên được phép hỗ trợ vốn cho sự kiện này, với mỗi công ty được phân chia bốn bảng quảng cáo xung quanh chu vi của sân, cũng như vị trí logo ở trước và sau phỏng vấn sau trận đấu và một số lượng vé nhất định cho mỗi trận đấu. Điều này, tích hợp với một thỏa thuận hợp tác để bảo vệ những nhà hỗ trợ vốn giải đấu được ưu tiên trên những quảng cáo truyền hình trong những trận đấu, bảo vệ rằng mỗi nhà hỗ trợ vốn chính của giải đấu đều được tiếp xúc tối đa. [ 65 ]Từ quy trình tiến độ loại trực tiếp 2012 – 13, UEFA đã sử dụng quảng cáo LED được lắp ráp tại những sân vận động loại trực tiếp, gồm có cả quá trình cuối. Từ mùa giải năm ngoái – 16 trở đi, UEFA đã sử dụng cách quảng cáo như vậy từ vòng play-off cho đến trận chung kết. [ 66 ]Các nhà hỗ trợ vốn chính của giải đấu cho tiến trình 2021 – 24 là :
Adidas là nhà hỗ trợ vốn thứ cấp và phân phối bóng trận đấu chính thức, Adidas Finale, còn đồng phục trọng tài được hỗ trợ vốn bởi Macron. [ 75 ] Hublot cũng là nhà hỗ trợ vốn thứ cấp với tư cách là ban chính thức thứ tư của cuộc thi. [ 76 ]Câu lạc bộ cá thể hoàn toàn có thể mặc áo với quảng cáo. Tuy nhiên, chỉ có một hỗ trợ vốn được phép cho mỗi áo ngoài của đơn vị sản xuất. Các ngoại lệ được thực thi cho những tổ chức triển khai phi doanh thu, hoàn toàn có thể Open ở mặt trước của áo, phối hợp với nhà hỗ trợ vốn chính hoặc ở mặt sau, dưới số đội hình hoặc trên khu vực cổ áo. [ 77 ]Nếu những câu lạc bộ chơi một trận đấu trong một vương quốc nơi hạng mục hỗ trợ vốn có tương quan bị hạn chế ( ví dụ điển hình như hạn chế quảng cáo rượu của Pháp ), thì họ phải xóa logo đó khỏi áo của họ. Ví dụ, khi Rangers tranh tài bên phía Pháp với Auxerre và Strasbourg tại Champions League 1996 – 97 và UEFA Cup, những cầu thủ của Rangers đã đeo logo của Center Parcs thay vì McEwan’s Lager ( cả hai công ty lúc đó là công ty con của Scottish và Newcastle ). [ 78 ] Cuộc tranh tài lôi cuốn phần đông người theo dõi truyền hình, không riêng gì ở châu Âu, mà trên toàn quốc tế. Trận chung kết của giải đấu, trong những năm gần đây, là sự kiện thể thao thường niên được theo dõi nhiều nhất trên quốc tế. [ 79 ] Trận chung kết của giải đấu 2012 – 13 có xếp hạng truyền hình cao nhất cho đến nay, lôi cuốn khoảng chừng 360 triệu người theo dõi truyền hình. [ 80 ]

Xếp hạng những vương quốc có số lần vô địch nhiều nhất[sửa|sửa mã nguồn]

Ghi chú

  • A  ^Tây Đức. Không có câu lạc bộ đại diện cho Đông Đức xuất hiện trong trận chung kết.

Xếp hạng theo câu lạc bộ[sửa|sửa mã nguồn]

Các cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất[sửa|sửa mã nguồn]

Tính đến 26 tháng 3 năm 2021[81]

Bảng dưới đây không gồm có những bàn thắng ghi trong quy trình tiến độ vòng loại .

Những cầu thủ ra sân nhiều nhất[sửa|sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 7 tháng 5 năm 2019[82]

Bảng dưới đây không gồm có việc ra sân trong quá trình vòng loại .

Ghi chú
  1. ^ Giggs đã có 4 trận Cúp C1 châu Âu + 141 trận UEFA Champions League .
  2. ^ Maldini đã có 26 trận Cúp C1 châu Âu + 109 trận UEFA Champions League .

Các kỷ lục[sửa|sửa mã nguồn]

” FC Bayern München 8-2 FC Barcelona ( 2019 – 20 )” FC Bayern München 6-0 Kaiserslautern ( 1998 – 99 )” Apoel Nicosia 2-8 Real Madrid ( 2011 – 12 )

  • Tỷ số đậm nhất vòng bán kết: FC Bayern München 7-0 FC Barcelona (2012–13)
  • Các trận chung kết có tỷ số đậm nhất:

” Real Madrid 7-3 Eintracht Frankfurt ( 1959 – 60 )” Bayern Munchen 4-0 Atletico Madrid ( đá lại ) ( 1973 – 74 )” AC Milan 4-0 FCSB ( 1988 – 89 )

” AC Milan 4-0 FC Barcelona (1993–94)

  • Cuộc lội ngược dòng vĩ đại nhất: Barcelona 6-5 PSG (Barcelona thua 4-0 ở lượt đi và thắng 6-1 ở lượt về mùa 2016–17)
  • Nhà vô địch toàn thắng duy nhất: FC Bayern München (vô địch mùa 2019–20 và thắng tất cả các trận từ vòng bảng đến chung kết, đây là đội vô địch duy nhất làm được điều này).[83]

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

  • Trang web chính thứcSửa đổi này tại Wikidata ( tiếng Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Nga )

Bài viết liên quan