Cúp bóng đá Đức trong tiếng Tiếng Anh – Tiếng Việt-Tiếng Anh

Anh ra mắt chuyên nghiệp cho Stuttgart ngày 25 tháng 10 năm 2016 ở Cúp bóng đá Đức 2016-17 trước Borussia Mönchengladbach.

He made his professional debut for Stuttgart on 25 October 2016 in the 2016–17 DFBPokal against Borussia Mönchengladbach.

WikiMatrix

Anh có trận đấu cuối cùng cho Dortmund trong trận chung kết Cúp bóng đá Đức 2014 với Bayern München vào ngày 17 tháng 5.

Lewandowski played his final match for Dortmund in the 2014 German Cup final against Bayern Munich on 17 May.

WikiMatrix

Năm 1982, ông đầu quân cho Bayern Munich và cùng câu lạc bộ này đoạt ba danh hiệu Bundesliga (từ 1985 đến 1987) và hai Cúp bóng đá Đức (1984 và 1986).

In 1982, he entered the Bayern Munich squad, getting three Bundesliga titles (from 1985 to 1987) and two German cups (1984 and 1986).

WikiMatrix

Trận đấu cuối cùng của ông trên băng ghế huấn luyện đội là trận chung kết Cúp bóng đá Đức 2015, nơi Dortmund để thua 1-3 trước VfL Wolfsburg.

His final match in charge of the team was the 2015 DFB-Pokal Final, which Dortmund lost 3–1 against VfL Wolfsburg.

WikiMatrix

FC Köln Cúp bóng đá Đức: 1952–53 Giải vô địch bóng đá Đức: 1955 Giải vô địch bóng đá thế giới: 1954 Đội hình toàn sao FIFA World Cup: 1954 Chiếc giày Bạc FIFA World Cup: 1958 Ballon d’Or – Á quân: 1958 Helmut Rahn: Mein Hobby: Tore schießen.

FC Köln DFB-Pokal: 1952–53 German football championship: 1955 FIFA World Cup: 1954 FIFA World Cup All-Star Team: 1954 FIFA World Cup Silver Boot: 1958 Ballon d’Or – Runner-up: 1958 Helmut Rahn: Mein Hobby: Tore schießen.

WikiMatrix

Khi là cầu thủ, ông là một trong những thành viên chủ chốt của đội Borussia Mönchengladbach trong thời kỳ vàng của CLB thập niên 1960 và 1970, nơi ông cùng đội bóng giành nhiều chức vô địch như Cúp bóng đá Đức và UEFA Cup.

As a player, he spent the majority of his career as a striker for Borussia Mönchengladbach in its golden era of the 1960s and ’70s, where he won many national championships and the DFBPokal, as well as the UEFA Cup.

WikiMatrix

Cúp bóng đá nữ Đức đầu tiên được tổ chức vào năm 1981 và đội vô địch là SSG 09 Bergisch Gladbach sau khi vượt qua TuS Wörrstadt 5-0 trong trận chung kết trước 35.000 khán giả.

The first women’s DFB Cup was held in 1981 with SSG 09 Bergisch Gladbach defeating TuS Wörrstadt 5-0 in the final match in front of 35,000 spectators.

WikiMatrix

Anh thi đấu cho Europa League 2010-11 và chung kết cóp bóng đá Tây Đức trong trận chung kết Cúp bóng đá Thụy Điển FC Basel năm 2010.

He played in the Europa League 2010-2011 and the Swiss cup final in 2010 against FC Basel.

WikiMatrix

Thực ra, VfB còn có cơ hội lần đầu tiên đoạt cú ăn đôi khi họ giành vé vào chơi trận chung kết cúp bóng đá quốc gia Đức lần đầu tiên kể từ khi họ vô địch giải này 10 năm trước.

In addition, VfB had their first ever chance to win the double as they also reached the final of the German Cup for the first time since their victory there ten years former.

WikiMatrix

Anh đá ở vị trí tiền vệ và đeo áo số 17 sau khi chơi ở vị trí của một cầu thủ kiến tạo và tiền vệ tấn công để thay thế cầu thủ bị treo giò Lincoln ở Cúp Liên đoàn bóng đá Đức (Ligapokal) trong trận tiếp Bayer Leverkusen và Bayern München.

He was deployed a midfielder and wore 17 as his squad number, after starting as a playmaker and central attacking midfielder in the place of the suspended Lincoln in Ligapokal matches against Bayer Leverkusen and Bayern Munich.

WikiMatrix

FC Vaduz Cúp bóng đá Liechtenstein: 2015-16, 2016-17 ^ FC Luzern official profile football.ch profile (tiếng Đức)

FC Vaduz Liechtenstein Football Cup (3): 2015-16, 2016-17, 2017-18 FC Luzern official profile football.ch profile (in German)

WikiMatrix

Kahn là một trong những thủ môn thành công nhất trong lịch sử bóng đá Đức khi giành được tám danh hiệu Bundesliga, sáu cúp quốc gia Đức, một Cup UEFA (1996), một chức vô địch Champions League và một cúp bóng đá liên lục địa (2001).

Kahn is one of the most successful German players in recent history, having won eight Bundesliga titles, six DFBPokals, the UEFA Cup in 1996, the UEFA Champions League and the Intercontinental Cup, both achieved in 2001.

WikiMatrix

Siêu cúp đã được phục hồi từ mùa giải 2010-11 tại cuộc họp chung hàng năm của Liên đoàn Bóng đá Đức vào ngày 10 tháng 11 năm 2009. Siêu cúp từ đó được gọi là DFL-Supercup bởi vì nó được điều hành bởi Deutsche Fußball Liga, trước đây được gọi là DFB Supercup bởi vì nó được điều hành bởi Deutscher Fußball-Bund (tiếng Anh: Hiệp hội bóng đá Đức).

The Supercup from then on was called the DFL-Supercup because it is now run by the Deutsche Fußball Liga, having previously been called the DFB-Supercup because it was run by the Deutscher Fußball-Bund (English: German Football Association).

WikiMatrix

Đấu thầu cho năm 1946: không có Bài chi tiết: Giải vô địch bóng đá thế giới 1950 và Giải vô địch bóng đá thế giới 1954 Đấu thầu: Brasil Brasil, Argentina và Đức đã đấu thầu chính thức cho Giải vô địch bóng đá thế giới 1942, nhưng Cúp này đã bị hủy bỏ sau khi Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ.

Bids for 1946: none Bid: Brazil Brazil, Argentina, and Germany had officially bid for the 1942 World Cup, but the Cup was cancelled after the outbreak of World War II.

WikiMatrix

Sau chiến thắng lịch sử tại Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Âu 1966 (Dortmund là đội bóng Đức đầu tiên đoạt danh hiệu vô địch câu lạc bộ Châu Âu), vấn đề ngày càng trở nên rõ ràng khi sân Stadion Rote Erde quá bé dành cho số lượng người hâm mộ Borussia Dortmund ngày càng tăng.

Following the historic triumph in the 1966 Cup Winners’ Cup (Dortmund was the first German team to win a European club title), it became clear that the Stadion Rote Erde was too small for the increasing number of Borussia Dortmund supporters.

WikiMatrix

Vì một vài năm sau khi Brasil được chọn đăng cai cúp thế giới, chúng tôi được biết rằng chính phủ Brasil muốn làm điều gì đó có ý nghĩa trong nghi thức khai mạc trên đất nước đang làm mới và hoàn thiện bóng đá có thể nói như thế trước khi Đức vô địch.

Because a couple years after Brazil was awarded the World Cup, we heard that the Brazilian government wanted to do something meaningful in the opening ceremony in the country that reinvented and perfected soccer until we met the Germans, of course.

ted2019

Bài viết liên quan