Fortuna Düsseldorf – Wikipedia tiếng Việt

Fortuna Düsseldorf (phát âm [fɔʁˈtuːna ˈdʏsl̩dɔʁf]  (Speaker Icon.svg nghe) liên_kết=| Về âm thanh này) là một câu lạc bộ bóng đá Đức ở Düsseldorf, North Rhine-Westphalia. Được thành lập vào năm 1895, Fortuna tham gia giải đấu đầu tiên năm 1913 và là một đội bóng luôn chơi ở hạng đấu cao nhất nước Đức từ đầu những năm 1920 cho đến khi thành lập Bundesliga năm 1963. Mùa giải 2019-20 là mùa giải thứ 25 của đội bóng được chơi tại Bundesliga và là mùa giải thứ 2 liên tiếp của đội bóng kể từ khi được thăng hạng từ giải hạng 2 Đức mùa giải 2017-18

Từ khi xây dựng cho đến Thế chiến II[sửa|sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ được xây dựng từ một câu lạc bộ thể dục dụng cụ có tên Turnverein Flingern vào ngày 5 tháng 5 năm 1895 tại làng Flingern, ngày này nó là một thành phố ở phía đông thành phố Düsseldorf. 2 mặt khác trong lịch sử dân tộc của câu lạc bộ : Düsseldorfer Fußballklub Spielverein, xây dựng vào năm 1908 và FK Alemania 1911 và 1 năm sau đó đổi tên thành Fortuna 1911. Vào khoảng chừng giữa năm 1913, hai câu lạc bộ trên sát nhập lại với nhau và lấy tên là Düsseldorfer Fußball-Club Fortuna 1911. Mùa giải ra đời của đội bóng tại Westdeutschen Spielverband vào năm 1913 – 14. Sau đó thì Turnverein Flingern cũng sát nhập vào Fortuna và đội bóng đổi tên thành Düsseldorfer Turn – und Sportverein Fortuna vào ngày 15 tháng 11 năm 1919 .

Vào cuối những năm 1920, Fortuna đã giành được danh hiệu đầu tiên ở giải đấu cao nhất. Đó là danh hiệu Bezirksliga cấp quận vào năm 1927. Cầu thủ đầu tiên được triệu tập lên đội tuyển quốc gia Đức của đội bóng vào năm 1928 (Ernst Albrecht), và giành thêm một danh hiệu Bezirksliga thứ hai vào năm 1929. Đội tiếp tục thi đấu tốt vào những năm 1930, giành được danh hiệu quận thứ ba và thứ tư trên đường đến chức vô địch bóng đá Tây Đức năm 1931 và thành công lớn nhất của câu lạc bộ, một chức vô địch bóng đá Đức năm 1933 trước Schalke 04, đội bóng đang trên đà để trở thành một thế lực của bóng đá Đức. Fortuna là đội đầu tiên giành được danh hiệu mà không để thủng lưới bất kì bàn thua nào trong các trận đấu của giải đấu. Đội bóng đã thắng đậm Vorwärts-Rasensport Gleiwitz(9-0), Arminia Hannover (3–0), Eintracht Frankfurt (4–0) và Schalke 04 (3-0) trên hành trình giành chức vô địch quốc gia đầu tiên

Trong mùa giải tiếp theo, đội bóng mở màn chơi ở Gauliga Niederrhein, 1 trong 16 giải đấu số 1 được xây dựng trong thời kì tổ chức triển khai lại bóng đá Đức dưới thời Đức Quốc Xã. Düsseldorf thống trị giải đấu trong suốt những năm 1930 với tư cách là nhà vô địch năm lần liên tục từ năm 1936 đến 1940, nhưng thất bại trong trận chung kết giải vô địch vương quốc năm 1936 ( thua 1-2 trước 1. FC Nürnberg ) và trận chung kết của Tschammerpokal, tiền thân của DFB-Pokal ngày này, vào năm 1937 ( thua 1-2 trước Schalke 04 ). Câu lạc bộ bị xuống hạng vào năm 1942 nhưng đã nhanh gọn lên hạng ngay mùa giải sau đó. Vào mùa giải 1944 – 45, đội bóng chỉ chơi được 2 trận đấu vì Đức Quốc Xã đã đầu hàng trước quân Đồng Minh .Cầu thủ nổi tiếng nhất của đội bóng vào tiến trình này là Paul Janes, cầu thủ khoác áo đội tuyển Đức nhiều lần nhất kể từ năm 1942 – 1970 ( 71 lần ), đội trưởng đội tuyển Đức ( 1939 – 1942 ). Stanislaus Kobierski, người đã khoác áo đội tuyển Đức 26 lần, ghi bàn thắng tiên phong cho đội tuyển Đức trong lịch sử dân tộc những kì FIFA World Cup của đội tuyển Đức .

Thời kỳ hậu chiến[sửa|sửa mã nguồn]

260px Fortuna DC3BCsseldorf Performance Chart Biểu đồ lịch sử vẻ vang về Fortuna sau Thế chiến IISau Thế chiến II, chính quyền sở tại chiếm đóng của quân Đồng minh đã ra lệnh giải thể tổng thể những tổ chức triển khai thể thao ở Đức. Fortuna được tái lập vào năm 1945 và sau đó chơi hầu hết mùa giải của họ tại giải Oberliga West ( I ) từ năm 1947 cho đến trước khi Bundesliga xây dựng năm 1963. Đội bóng thường về đích ở nửa sau của bảng xếp hạng nhưng cũng đã được tham gia 3 trận chung kết DFB-Pokal nhưng đều thua cả ba trận lần lượt trước Bayern Munich, VfB Stuttgart và 1. FC Nürnberg. Vào thời kì này, những cầu thủ điển hình nổi bật nhất của đội bóng là Toni Turek, thủ môn đội tuyển Đức tại World Cup 1954, Erich Juskowiak ( cầu thủ tham gia World Cup 1958 ) và huấn luyện viên đội tuyển Đức Jupp Derwall .Thành tích của Fortuna không đủ tốt để kiếm cho họ một vị trí trong số 16 đội khởi đầu được chọn cho Bundesliga mới xây dựng năm 1963, nhưng câu lạc bộ đã tranh tài tốt và được tham gia Bundesliga 3 năm sau đó và được tham gia giải đấu vào mùa giải 1966 – 67. Mặc dù đội bóng đã có thắng lợi tiên phong trong lịch sử vẻ vang câu lạc bộ tại giải đấu khi thắng Dortmund 2-1, đội vừa mới giành được cúp C2 Châu Âu ngay ở trận đấu tiên phong ra đời giải đấu. Nhưng cuối mùa giải, đội bóng đã bị xuống hạng và chỉ quay trở lại giải đấu vào năm 1971. Đội bóng đã có 16 mùa tiếp được chơi tại Bundesliga và 2 lần về đích thứ 3 ( mùa 1972 – 73 và 1973 – 74 ). Vào ngày 9 tháng 12 năm 1978, đội bóng xác lập thắng lợi 7-1 trước Bayern Munich, cho đến nay đó là thất bại nặng nề nhất mà Bayern phải nhận trong suốt lịch sử dân tộc họ tham gia giải đấu. Cũng trong năm này, câu lạc bộ đã tham gia trận chung kết DFB-Pokal nhưng thất bại trước đại kình địch với tỉ số 0-2 nhưng ngay mùa giải sau đó đội bóng đã giành được chức vô địch khi vượt mặt Hertha với tỉ số 1-0 và liên tục giành thêm một chức vô địch nữa vào năm tiếp theo khi thắng 2-1 trước [ 1 ] 1. FC Köln. Trong tiến trình này, đội bóng đã xác lập kỷ lục 18 trận thắng liên tục tại DFB-Pokal từ năm 1978 – 1981Thành tích tốt nhất của đội bóng trong những giải đấu cúp Châu Âu là lọt vào trận chung kết cúp C2 năm 1979, khi đội bóng thất bại trước Barcelona với tỉ số 4-3 tại Basel. [ 2 ]Câu lạc bộ đạt được thành công xuất sắc hầu hết với những cầu thủ cây nhà lá vườn như đồng đội nhà Allofs ( Klaus Allofs và Thomas Allofs ), Gerd Zewe Dieter Herzog, Reiner Geye, Wolfgang Seel, và Rudi Bommer. Trong khoảng chừng thời hạn từ 1960 – 1967, Peter Meyer đã ghi được 119 bàn thắng sau 174 trận .
220px LTU arena Warsteiner Sân Merkel Spiel-Arena ở Düsseldorf. Sân nhà của đội bóngKể từ khi xuống hạng vào năm 1987, đội bóng đã liên tục lên hạng và xuống hạng giữa những giải đấu. Đội bóng đã có 5 mùa giải chơi tại Bundesliga từ năm 1989 – 92 và 1995 – 97 sau đó trượt dốc không phanh xuống tận giải Oberliga Nordrhein ( hạng 4 Đức ) vào năm 2002 – 04. Vào năm 2001, đội bóng thoát khỏi cảnh xuống hạng đến giải hạng tư vì có 2 đội bóng khác đã bị phủ nhận bản quyền được chơi tại giải hạng 3 vì nguyên do kinh tế tài chính. Đội bóng vào thời hạn này cũng gặp yếu tố về kinh tế tài chính nhưng đã vượt qua được. Vào năm 2001 – 03, đội bóng được tài tử bởi nhóm nhạc rock Die Toten Hosen

Những mùa giải gần đây[sửa|sửa mã nguồn]

Vào mùa giải 2008-09. đội bóng tham dự giải 3.Liga vừa mới được thành lập và ngay lập tức về đích thứ 2, qua đó thăng hạng trực tiếp lên 2. Bundesliga và về đích thứ 4. Mùa giải 2009-10, đội bóng là đội duy nhất trong 3 hạng đấu cao nhất nước Đức không để thua bất cứ một trận nào trên sân nhà.

Sau một mùa giải 2009 – 10 đầy hứa hẹn, mùa giải sau đó, đội bóng khởi đầu khá tệ hại khi thua cả sáu trận đầu mùa và xếp bét bảng và chỉ ghi được 2 bàn thắng. Mặc dù có thành tích tệ hại vào đầu mùa như thế nhưng đội bóng đã trở lại và về đích thứ 7 vào cuối mùa. Mùa giải 2011 – 12 mở màn với đội bóng rất tốt khi ở tiến trình lượt đi họ đã giành được thành tích bất bại ( 12 thắng, 5 hoà và 0 thua ). Các CĐV của đội bóng đã khởi đầu kỳ vọng vào sự thăng hạng của đội bóng nhưng lượt về của mùa giải so với đội bóng diễn ra rất khó khăn vất vả và đội bóng đã không hề giữ được vị trí của mình trên bảng xếp hạng khi thua 4 trận và hoà rất nhiều trận và tụt xuống thứ 3 khi mùa giải kết thúc và họ phải tham gia trận đấu play-off tranh suât lên hạng với đội đứng thứ 16 tại Bundesliga là Hertha Berlin. [ 3 ] Trận đấu lượt đi với Hertha diễn ra vào ngày 10 tháng 5 năm 2012 tại Berlin và đội bóng đã thắng Hertha 2-1. 5 ngày sau đó họ đã hoà trận lượt về quyết định hành động trên sân nhà, qua đó thăng hạng lên Bundesliga và đẩy Hertha xuống 2. Bundesliga. Các CĐV Hertha đã không kiềm chế được nỗi tuyệt vọng nên đã ném pháo sáng xuống sân và những cầu thủ 1 phút trước khi trận đấu kết thúc, còn với những CĐV Fortuna thì chạy vào sân bóng để ăn mừng chức lên hạng. [ 4 ]Việc thăng hạng Bundesliga bộc lộ một thành tích cá thể khác thường cho đội trưởng Andreas Lambertz, khi anh trở thành cầu thủ tiên phong trong lịch sử dân tộc bóng đá Đức được thăng hạng ba lần với cùng một câu lạc bộ, từ Oberliga hạng tư sau đó đến Bundesliga. Còn so với tiền đạo Sascha Rösler, thì nó đã lưu lại lần thứ 4 anh lên hạng từ 2. Bundesliga lên BundesligaĐi kèm với sự thăng hạng gần đây, câu lạc bộ đã đạt được một kỷ lục mới trong lịch sử dân tộc bóng đá Đức, trở thành câu lạc bộ Đức duy nhất bị rớt khỏi Bundesliga xuống giải hạng 4 ( xuống hang từ 1997 – 2002 ) và lên hạng trở lại Bundesliga ( lên hạng từ 2004 – 2012 )Đội bóng khởi đầu mùa giải 2012 – 13 tại Bundesliga rất tốt khi xếp thứ 5 sau 5 trận tiên phong và nỗi lo xuống hạng dần không còn. Thế nhưng trận thắng 1-0 của đội bóng trước SpVgg Greuther Fürth vào ngày 16 tháng 2 lại trở thành trận thắng sau cuối của đội bóng ở mùa giải. Sau đó đội bóng thua Hannover 96 0-3, trận thua này sau đó là trận thắng của Augsburg trước Fürth và trận thắng kì khôi và không như mong muốn của Hoffemheim trước Dortmund đã khiến cho Fortuna rơi xuống nhóm cầm đèn đỏ. Cuối mùa giải, đội bóng về đích thứ 17 và bị xuống hạng đến 2. Bundesliga. [ 5 ]Sự xuống hạng của Fortuna là hiệu quả cho một hành trình dài tồi tệ của đội bóng ở mùa giải này. Trong 8 trận đấu ở đầu cuối của đội bóng tại mùa giải này, họ không hề giành thắng lợi bất kể một trận đấu nào mặc dầu chỉ cần 1 thắng lợi là đủ để cho họ trụ hạng them một mùa tại Bundesliga. Thành tích tệ hại này cũng khiến cho huấn luyện viên trưởng Norbert Meier bị sa thảiViệc rơi xuống 2. Bundesliga đã khiến cho đội bóng bộc lộ một bộ mặt rất bạc nhược. Trong 4 mùa giải từ 2013 – 2017 đội bóng luôn về đích ở giữa bảng xếp hạng và tiếp tục phải chiến đấu để trụ hạng và hiếm khi thử thách những đội bóng khác cho một suất lên chơi Bundesliga. Ở trong 4 mùa giải này, đội bóng đã đổi khác rất nhiều huấn luyện viên trưởng, từ Oliver Reck, Frank Kramer, đến cựu cầu thủ Mike Buskens và 1 số ít người khác nữa nhưng thành công xuất sắc vẫn chưa đến với đội bóng .Vào tháng 3 năm năm nay, Friedmus Funkel đã tiếp đón vị trí huấn luyện viên của đội bóng. Trong trận đấu tiên phong với tư cách huấn luyện viên, Funkel đã dẫn dắt câu lạc bộ giành thắng lợi 4-3 trước 1. FC Kaiserslautern, kết thúc chuỗi trận không thắng lê dài một tháng. Khởi đầu của Funkel khi HLV lưu lại sự khởi đầu của quy trình tiến độ không thay đổi và thành công xuất sắc của đội bóngVào đầu mùa giải 2017 – 18, đội bóng mở màn rất can đảm và mạnh mẽ bằng việc leo lên vị trí tiên phong sau 4 trận tiên phong với thành tích 3 thắng, 1 hoà. Và trong suốt mùa giải, đội bóng không để bị rơi khỏi vị trí thứ 3. Vào đầu tháng 4, đội bóng thua 3 trận liền nhưng sau đó thắng lại 2 trận liên tục, qua đó giúp đội bóng thăng hạng lên Bundesliga. Ở trận đấu sau cuối của mùa giải, đội bóng đã vượt mặt 1. FC Nürnberg với tỉ số 3-2, qua đó đoạt chức vô địch 2. Bundesliga. Còn với huấn luyện viên của đội bóng là Friedhelm Funkel, thành tích này đã giúp ông lập kỉ lục tại Đức khi đây là lần thứ 6 ông dẫn dắt một câu lạc bộ lên hạng. [ 6 ]Đội bóng quay trở lại Bundesliga mùa giải 2018 – 19 với niềm hân hoan của người hâm mộ Düsseldorf. Lượt đi mùa giải của đội bóng được nhìn nhận là can đảm và mạnh mẽ nhưng không không thay đổi. Đội bóng thường chơi rất tốt trước những đội đứng vị trí số 1 giải đấu bằng việc hoà trước RB Leipzig, vượt mặt Hoffenheim và Dortmund và hoà trước nhà đương kim vô địch Bayern Munich khi gỡ hoà 3-3 ở phút 90 + 3. Thế nhưng, đọi bóng chơi rất thiếu không thay đổi và thường nhận những tác dụng tuyệt vọng trước những đội bóng xếp dưới khi thua Augsburg, Nürnberg và Mainz và hoà Stuttgart. Kết thúc lượt đi, đội bóng xếp ở vị trí thứ 14 và sau đó về đích chung cuộc ở vị trí thứ 10. Qua đó có thêm 1 năm chơi ở Bundesliga. [ 7 ]

Mùa giải 2019-20 bắt đầu với đội bóng bằng rất nhiều kì vọng của người hâm mộ rằng sẽ có thêm một mùa trụ hạng tại Bundesliga. Nhưng thành tích lại không tương xứng với kì vọng khi kết thúc lượt đi với vị trí thứ 16 với thành tích 4 thắng, 3 hoà và thua tới 10. Các cầu thủ và CĐV đã bắt đầu cảm thấy lo lắng cho đội bóng khi 2 trận đấu lượt về đầu tiên đều thua trước Bremen và Leverkusen. Thành tích này cùng với giai đoạn lượt đi đã đẩy đội bóng xuống bét bảng xếp hạng và huấn luyện viên Funkel bị sa thải và thay thế là ông Uwe Rösler nhưng thành tích vẫn không khả quan hơn khi 6 trận đầu tiên ông dẫn dắt, đội bóng chỉ thắng 1 trận trước Freiburg với tỉ số 2-0, còn lại là 4 trận hoà và 1 trận thua đậm trước Borussia Mönchengladbach với tỉ số 1-4 trên sân nhà.[8] Thành tích này giúp đội bóng lên thứ 16, vị trí phải đá play-off tranh suất trụ hạng vào cuối mùa. Còn ở DFB-Pokal, đội bóng đã tiến vào tứ kết khi thắng Villingen, Erzgebirge Aue, 1. FC Kaiserslautern nhưng thất bại và bị loại trước đội đang thi đấu tại giải hạng 4 Đức là Saarbrücken sau loạt đá luân lưu.

Đội hình hiện tại[sửa|sửa mã nguồn]

Tính đến 1 tháng 2 năm 2020[1]

No.

vị trí

Cầu thủ

No.

vị trí

Cầu thủ

Ra khỏi đội hình[sửa|sửa mã nguồn]

No.

Vị trí

Cầu thủ

No.

Vị trí

Cầu thủ

No.

Vị trí

Cầu thủ

Chức vô địch
Cúp Đức
  • DFB-Pokal
    • Vô địch: 1978 Từ 79, 1979 -80
    • Á quân:1937, 1956-1957, 1957-1958, 1961-1962, 1977-1978
Quốc tế
  • European Cup Winners’ Cup
    • Á quân: 1978 -79
  • Giải vô địch Tây Đức
  • Vô địch: 1931
    • Á quân: 1933
  • Gauliga Niederrhein / Berg-Mark (I)
    • Vô địch: 1926–27, 1928–29, 1930–31, 1932–33, 1935–36, 1936–37, 1937–38, 1938–39, 1939–40, 1946–47
  • Cúp Tây Đức
    • Vô địch: 1955–56, 1956–57, 1957–58, 1961–62, 1970–71 (II)

Lịch sử đội bóng[sửa|sửa mã nguồn]

Những mùa giải gần đây[sửa|sửa mã nguồn]

  • Lichtplatz (1908-19)
  • Vennhauser Straße (1919-30)
  • Paul-Janes-Stadion (1930–53, 1970–72, 1975–76 (Evasive), 2002–05, 2005–07 (Evasive))
  • Rheinstadion (1953–70, 1972–2002)
  • Merkur Spiel-Arena (2005- hiện tại)

Đối thủ truyền kiếp của Fortuna là 1. FC Köln, bắt nguồn từ sự thân mật về địa lý của Düsseldorf và Cologne cũng như sự cạnh tranh đối đầu lịch sử vẻ vang giữa hai thành phố. Tuy nhiên, trong những mùa giải gần đây, những câu lạc bộ hiếm khi chơi trong cùng giải đấu khiến những cuộc chạm trán trực tiếp ngày càng hiếm. Mùa giải 2013 – 14 ghi lại lần ở đầu cuối hai câu lạc bộ gặp nhau trong những trận đấu cạnh tranh đối đầu khi cả hai chơi ở Giải hạng hai. Mùa giải 2018 – 19, Fortuna đã được thăng hạng lên Bundesliga nhưng 1. FC Köln bị xuống 2. Bundesliga nên trận derby này không xảy ra. nhưng sau đó 1. FC Köln lên hạng trở lại vào mùa 2019 – 20 và sẽ có 2 trận derby diễn ra. Trận lượt đi Fortuna đã thắng Köln 2-0 trên sân nhà bằng hai bàn thắng của Rouwen Hennings và Erik Thommy, [ 9 ] trận lượt về dự kiến đá vào ngày 21 tháng 3 năm 2020 trên sân RheinEnergieStadion của 1. FC Köln nhưng đã bị hoãn vì đại dịch COVID-19 tại Đức. [ 10 ]

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Bài viết liên quan