Bệnh viêm vùng chậu (PID) – Phụ khoa và Sản khoa – Cẩm nang MSD – Phiên bản dành cho chuyên gia

Bệnh viêm vùng chậu (PID) là nhiễm trùng đường sinh dục trên của phụ nữ: cổ tử cung, tử cung, vòi trứng và buồng trứng; áp xe có thể xảy ra. Các triệu chứng và dấu hiệu thường gặp bao gồm đau bụng dưới, tiết dịch cổ tử cung, và chảy máu âm đạo không đều. Các biến chứng dài hạn bao gồm vô sinh, đau vùng chậu mạn tính, và thai ngoài tử cung. Chẩn đoán bao gồm PCR của mẫu dịch cổ tử cung tìm Neisseria gonorrhoeae và chlamydiae, soi dịch cổ tử cung (thường làm) và siêu âm hoặc nội soi ổ bụng (đôi khi). Điều trị bằng kháng sinh.

PID gây ra do vi sinh vật đi lên từ âm đạo và cổ tử cung vào trong niêm mạc tử cung và vòi trứng. Neisseria gonorrhoeaeChlamydia trachomatis là nguyên nhân phổ biến của PID; chúng lây truyền qua đường tình dục. Mycoplasma genitalium, mà cũng lây truyền qua đường tình dục, cũng có thể gây ra hoặc đóng góp vào PID.

Bạn Đang Xem: Bệnh viêm vùng chậu (PID) – Phụ khoa và Sản khoa – Cẩm nang MSD – Phiên bản dành cho chuyên gia

PID thường xảy ra ở phụ nữ 35. Hiếm xảy ra trước lần kinh nguyệt đầu tiên, sau khi mãn kinh và trong thời kỳ mang thai.

Các yếu tố nguy cơ bao gồm

  • PID trước đó

  • Sự hiện diện của viêm âm đạo do vi khuẩn hoặc bất kỳ bệnh lây truyền qua đường tình dục

Các yếu tố nguy cơ khác, đặc biệt là bệnh lậu hoặc PID do chlamydia, bao gồm

  • Trẻ tuổi

  • Chủng tộc khác da trắng

  • Tình trạng kinh tế xã hội thấp

  • Nhiều bạn tình hoặc bạn tình mới

Triệu chứng và Dấu hiệu

Đau bụng dưới, sốt, tiết dịch cổ tử cung và chảy máu tử cung bất thường là phổ biến, đặc biệt là trong hoặc sau khi hành kinh.

Viêm cổ tử cung

Viêm vòi trứng cấp

Đau bụng dưới là dấu hiệu thường gặp và hai bên nhưng cũng có thể chỉ một bên, ngay cả khi cả hai vòi đều có bị liên quan. Đau cũng có thể xảy ra ở vùng bụng trên. Buồn nôn và nôn thường gặp khi đau nặng. Xuất huyết không đều (do viêm niêm mạc tử cung gây ra) và sốt từng xảy ra tới 1/3 số bệnh nhân.

Trong giai đoạn đầu, dấu hiệu có thể nhẹ hoặc không có Sau đó, dấu hiệu căng tức khi chuyển động cổ tử cung, sự bảo vệ và sự hồi phục lại là phổ biến.

Xem Thêm: Bài thuốc chữa suy buồng trứng sớm

Thỉnh thoảng, xảy ra đau khi quan hệ hoặc rối loạn đi tiểu.

Nhiều phụ nữ có tình trạng viêm nghiêm trọng đủ để gây tổn thương sẹo dính có triệu chứng ít hoặc không có triệu chứng.

PID do N. gonorrhoeae thường là cấp tính hơn và gây ra các triệu chứng trầm trọng hơn so với viêm do C. trachomatis, mà có thể không đau . PID do M. genitalium, giống như do C. trachomatis, cũng nhẹ và cần được xem xét ở những phụ nữ không đáp ứng với điều trị bậc 1 đối với PID.

Biến chứng

Viêm cấp tính do lậu hoặc viêm cấp do chlamydia có thể dẫn tới hội chứng Fitz-Hugh-Curtis (viêm quanh gan gây đau một phần tư trên phải ổ bụng). Nhiễm trùng có thể thành mạn tính, đặc trưng bởi đợt cấp xuất hiện thường xuyên và tái phát.

Áp-xe vòi-buồng trứng (tập trung mủ trong phần phụ) phát triển ở khoảng 15% phụ nữ bị viêm vòi trứng. Nó có thể đi kèm với nhiễm trùng cấp tính hoặc mạn tính và biến chứng này có nhiều khả năng bị nếu điều trị muộn hoặc không đầy đủ. Đau, sốt, và các dấu hiệu phúc mạc thường có và có thể nặng. Một khối u phần phụ có thể sờ thấy được, mặc dù sự căng đau quá mức có thể gây hạn chế việc khám. Áp xe có thể vỡ, gây ra các triệu chứng nặng và có thể là sốc nhiễm khuẩn.

Ứ nước vòi chứng là tắc nghẽn đầu vòi và giãn vòi trứng chứa dịch không phải là mủ; thường là không có triệu chứng nhưng có thể gây tức nặng, đau vùng tiểu khung mạn tính, đau khi quan hệ, và/hoặc vô sinh

Viêm vòi trứng có thể gây sẹo và viêm dính, dẫn đến đau vùng chậu mạn tính, vô sinh và tăng nguy cơ mang thai ngoài tử cung.

  • Chỉ số nghi ngờ cao

  • PCR

  • Thử thai

PID được nghi ngờ khi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đặc biệt là những người có các yếu tố nguy cơ, có đau bụng dưới hoặc ra nhiều dịch cổ tử cung hoặc âm đạo không giải thích được PID được xem xét khi xuất huyết âm đạo bất thường, quan hệ đau hoặc khó tiểu không giải thích được. PID có nhiều khả năng hơn nếu có đau vùng bụng dưới, một hoặc cả 2 bên và cảm giác căng đau khi di động cổ tử cung. Sờ thấy một khối u phần phụ nghĩ tới áp xe vòi-buồng trứng. Bởi vì thậm chí cả nhiễm trùng có triệu chứng tối thiểu có thể có di chứng nặng nề, chỉ số nghi ngờ cần ở mức cao.

Nếu nghi ngờ PID, PCR của mẫu cổ tử cung cho N. gonorrhoeaeC. trachomatis (với độ nhạy và đặc hiệu khoảng 99%) và thực hiện xét nghiệm mang thai. Nếu không làm được PCR, thực hiện cấy vi khuẩn. Tuy nhiên, nhiễm trùng đường sinh dục trên có thể xảy ra ngay cả khi mẫu xét nghiệm ở cổ tử cung âm tính. Tại thời điểm chăm sóc, dịch tiết cổ tử cung thường được kiểm tra để xác định mủ; nhuộm Gram hoặc soi tươi khí hư bằng nước muối được sử dụng, nhưng các xét nghiệm này không nhạy và cũng như không đặc hiệu.

Nếu bệnh nhân không thể được kiểm tra đầy đủ vì đau, siêu âm được thực hiện càng sớm càng tốt.

Số lượng bạch cầu có thể tăng lên nhưng không hữu ích trong chẩn đoán.

Nếu xét nghiệm mang thai dương tính, cần nghi ngờ mang thai ngoài tử cung, vì các dấu hiệu phát hiện được cũng tương tự.

Hội chứng Fitz-Hugh-Curtis có thể giống viêm đường mật cấp tính nhưng thường có thể được phân biệt bằng các triệu chứng viêm phần phụ khi khám vùng chậu hoặc, nếu cần, bằng siêu âm.

Nếu khối u phần phụ hoặc vùng chậu nghi ngờ trên lâm sàng hoặc nếu bệnh nhân không đáp ứng với kháng sinh trong vòng 48 đến 72 giờ, siêu âm sẽ được thực hiện càng sớm càng tốt để loại trừ áp xe vòi-buồng trứng, mủ vòi và rối loạn không liên quan đến viêm nhiễm vùng chậu (ví dụ như thai ngoài tử cung, xoắn phần phụ). Nếu chẩn đoán không chắc chắn sau khi siêu âm thì nên nội soi ổ bụng; có mủ ở phúc mạc ở bụng khi nội soi thì đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán

  • Kháng sinh để bao phủ lên N. gonorrhoeae, C. trachomatis, và đôi khi cả các vi khuẩn khác

Kháng sinh được điều trị theo kinh nghiệm để bao phủ lên N. gonorrhoeaeC. trachomatis và được thay đổi dựa trên kết quả xét nghiệm. Điều trị theo kinh nghiệm là cần thiết bất cứ khi nào chẩn đoán chưa rõ vì một số lý do:

  • Xét nghiệm (đặc biệt là xét nghiệm lúc khám) không kết luận được.

  • Chẩn đoán dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng có thể không chính xác.

    Xem Thêm: Đau bụng kinh do đâu

  • Không điều trị viêm vùng chậu có triệu chứng tối thiểu có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng.

Bạn tình của bệnh nhân nhiễm N. gonorrhoeae hoặc C. trachomatis nên được điều trị.

Bệnh viêm vùng chậu (PID) - Phụ khoa và Sản khoa - Cẩm nang MSD - Phiên bản dành cho chuyên gia

Nếu bệnh nhân không cải thiện sau khi điều trị bao vây các mầm bệnh thông thường, PID do M. genitalium nên được xem xét. Bệnh nhân có thể điều trị theo kinh nghiệm bằng moxifloxacin 400 mg uống một lần/ngày trong 7 đến 14 ngày (ví dụ, trong 10 ngày).

Phụ nữ bị viêm vùng chậu thường phải nhập viện nếu có bất kỳ triệu chứng nào sau đây:

  • Chẩn đoán không chắc chắn, không có khả năng loại trừ các bệnh cần điều trị phẫu thuật (ví dụ, viêm ruột thừa)

  • Mang thai

  • Triệu chứng nặng hoặc sốt cao

  • Áp-xe vòi-buồng trứng

  • Không có khả năng chịu đựng hoặc tuân theo điều trị ngoại trú (ví dụ, do nôn mửa)

  • Thiếu đáp ứng với điều trị ngoại trú (uống)

Áp-xe vòi-buồng trứng có thể cần điều trị kháng sinh đường tĩnh mạch kéo dài hơn. Điều trị với dẫn lưu qua da dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CT hoặc dẫn lưu qua đường âm đạo có thể được thực hiện nếu đáp ứng với điều trị kháng sinh đơn thuần không khỏi hoàn toàn Đôi khi cần phải phẫu thuật nội soi hoặc mở ổ bụng để dẫn lưu. Nghi ngờ vỡ khối áp xe vòi-buồng trứng thì cần phải phẫu thuật mở bụng ngay. Ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, phẫu thuật nên nhằm mục đích bảo vệ các cơ quan vùng chậu (với hy vọng duy trì khả năng sinh sản).

  • Các mầm bệnh lây truyền qua đường tình dục Neisseria gonorrhoeaeChlamydia trachomatis là nguyên nhân phổ biến gây viêm vùng chậu, nhưng nhiễm trùng thường là đa vi khuẩn.

  • Viêm vùng chậu có thể gây sẹo và dính vòi tử cung, thường dẫn đến đau vùng chậu mạn tính, vô sinh, và tăng nguy cơ mang thai ngoài tử cung.

  • Bởi vì thậm chí cả khi nhiễm trùng có triệu chứng tối thiểu có thể mang lại hậu quả nặng nề, chỉ số nghi ngờ cần phải cao.

  • PCR và nuôi cấy vi khuẩn là các xét nghiệm chính xác; tuy nhiên, nếu không có kết quả ngay lúc khám, thì điều trị theo kinh nghiệm thường được khuyến cáo.

  • Cho những phụ nữ có viêm nhiễm vùng chậu được nhập viện dựa trên các tiêu chí lâm sàng (xem ở trên).

Nguồn: https://webtintuc247.com
Danh Mục: Phụ Khoa

Bài viết liên quan