Trịnh Công Sơn – Wikipedia tiếng Việt

Trịnh Công Sơn (28 tháng 2 năm 1939 – 1 tháng 4 năm 2001) là một nam nhạc sĩ người Việt Nam. Ông được coi là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm nổi tiếng. Hiện nay chưa có thống kê chính xác về số tác phẩm để lại của ông (ước đoán con số không dưới 600 ca khúc).[2] Tuy nhiên số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly, danh ca gắn liền tên tuổi với hàng trăm ca khúc của ông. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ, một diễn viên và một ca sĩ (ông từng biểu diễn một số bài hát do chính mình sáng tác).

Thời niên thiếu[sửa|sửa mã nguồn]

Ông nguyên quán ở làng Minh Hương, xã Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. [ 3 ] Ông lớn lên tại Huế. Lúc nhỏ ông theo học những trường Lycée Français và Providence ở Huế, sau vào Hồ Chí Minh theo học triết học trường Tây Lycée Jean Jacques Rousseau và tốt nghiệp tú tài tại đây .

Năm 1957, khi 18 tuổi, ông bị một tai nạn, khi đang tập võ judo với người em trai, ông bị thương nặng ở ngực, suýt chết và phải nằm liệt giường gần hai năm tại Huế. Cũng theo một nguồn tin khác như lời kể của bà Trịnh Vĩnh Trinh (em gái cố nhạc sĩ): “Năm anh Sơn 18 tuổi, ba mất, để lại mẹ và bảy người em. Lúc đó, anh còn quá trẻ, không biết phải làm sao. Mấy tháng liền, trời nắng chang chang, anh lên mộ ba ngồi cả ngày. Anh ốm nặng một trận. Khi khỏi, anh nhờ má mua cho cây đàn để viết nhạc”. Bà Trịnh Vĩnh Trinh kể ở tuổi 18, trở thành trụ cột gia đình, Trịnh Công Sơn loay hoay không biết phải bắt đầu thế nào. Ông mua rất nhiều sách để đọc và dạy các em. Ông bắt năm em gái tập đi mỗi sáng với một quyển sách được đặt trên đầu, phải bước đi sao cho duyên dáng, khoan thai. Ông coi trọng lễ nghi, luôn dặn dò các em không được gắp thức ăn trước người lớn trong bữa cơm, không được chống hai tay trên bàn khi có bề trên. Ông nghiêm khắc, từng đánh đòn em nhưng sau này, ông hối hận nói: “Lúc đó anh còn trẻ quá, chẳng biết làm sao”. Thời gian nằm bệnh, ông đọc nhiều sách về triết học, văn học, tìm hiểu dân ca. Ông từng thổ lộ: “Khi rời khỏi giường bệnh, trong tôi đã có một niềm đam mê khác – âm nhạc. Nói như vậy hình như không chính xác, có thể những điều mơ ước, khát khao đó đã ẩn chứa từ trong phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, trỗi dậy“.

Theo ông cho biết, ông sáng tác bài Sương đêm và Sao chiều vào năm 17 tuổi. Nhưng tác phẩm được công bố đầu tiên của ông là Ướt mi, do nhà xuất bản An Phú in năm 1959[4] và qua giọng ca Thanh Thúy.

Năm 1961, vì muốn tránh thi hành nghĩa vụ và trách nhiệm quân sự chiến lược nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ nhỏ tại trường Sư phạm Quy Nhơn. Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại một trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. [ 5 ]Ông là một tri thức đấu tranh tích cực cho trào lưu độc lập tại miền Nam. Năm 1968, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã gặp bộ đội cụ Hồ trong 26 ngày đêm Cách mạng giải phóng Huế. Vào năm 1970, ông đã tham gia trào lưu Tự quyết với Ngô Kha, Trần Viết Ngạc, Lê Khắc Cầm, Chu Sơn và Thái Ngọc San. [ 6 ]

Tên tuổi của Trịnh Công Sơn được nhiều người biết đến hơn, từ khi ông cùng ca sĩ Khánh Ly hát tại Quán Văn, một quán cà phê đơn sơ dựng trên bãi đất cỏ sau Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn do nhóm sinh viên mang tên Khai Hóa trong phong trào phục vụ thanh niên xã hội chủ trương, từ cuối năm 1966.[7][8] Trong những năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly. Ông kể: “Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly. Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết và lúc đó tôi chưa tìm ra ca sĩ nào ngoài Khánh Ly. Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình. Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa. Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly“, còn Khánh Ly kể lại giai đoạn cơ cực đói khổ nhưng đầy hạnh phúc những năm 1960 ấy: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn“.[9]

Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng Nhật Bản năm 1970 như “Diễm xưa” (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt), “Ca dao Mẹ”, “Ngủ đi con”. Riêng bài Ngủ đi con đã phát hành trên hai triệu đĩa than. Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền Việt Nam Cộng hòa đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông.[10] Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn “Trịnh Công Sơn – vết chân dã tràng”[11], nhiều ca khúc của ông có thông điệp phản chiến bị cả hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa cấm lưu hành[12] Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng không tán thành thái độ phản chiến của ông về chiến tranh, vốn mang tính “chủ hòa, ủy mị”, làm nản lòng những người đang đấu tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước. Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn “Trịnh Công Sơn – vết chân dã tràng”, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì có những người phê phán ông vì coi ông là “thiếu lập trường chính trị”,[13] có những người cực đoan đòi sau khi tiến về Sài Gòn sẽ “xử tử” ông.[14]

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài “Nối vòng tay lớn”. Cũng chính ông là người trưa ngày 30/4 đã đứng lên phát biểu trực tiếp trên đài phát thanh Sài Gòn sau lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. Trong bài phát biểu, ông kêu gọi người dân miền Nam ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam:[15]

Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta… Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam này… Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả kết quả đó… Hôm nay tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam, các bạn trẻ và Chính phủ Cách mạng lâm thời xem những kẻ ra đi là những kẻ phản bội đất nước… Chính phủ Cách mạng lâm thời đến đây với thái độ hòa giải, tốt đẹp. Chúng ta không có lý do gì để sợ hãi mà ra đi cả. Đây là cơ hội duy nhất và đẹp đẽ nhất để đất nước Việt Nam được thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước suốt mấy chục năm nay. Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu và cũng như những người chưa quen của tôi xin ở lại và kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng lâm thời để góp tiếng nói xây dựng miền Nam Việt Nam này…“[16]

Theo BBC, sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình ông di cư sang Mỹ và ông phải đi học tập cải tạo trong 4 năm.[17] Tuy nhiên, theo tác giả Bùi Đức Lạc (một người bạn thân của Trịnh Công Sơn) thì ông chỉ đi làm kinh tế mới vài năm chứ không hề có cải tạo[18], nguồn khác thì nói ông đi học tập chính trị 2 năm ở Cồn Tiên. Theo Nguyễn Đắc Xuân, thời gian đầu sau khi kết thúc chiến tranh năm 1975, “Đối với lãnh đạo thì không có vấn đề gì, nhưng có nhiều “anh em phong trào” ở Sài Gòn không thích quan điểm lập trường chung chung của Trịnh Công Sơn trước đây“, ông trở về Huế và “thời gian đó một số phần tử quá khích theo phong trào “Hồng vệ binh” của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa đã kích động sinh viên treo một tấm banderole to tướng mang dòng chữ xanh rờn: “Hạ bệ Phạm Duy – Hoàng Thi Thơ và Trịnh Công Sơn” trước trường Đại học Sư phạm Huế” và “tiếp theo là cuộc tọa đàm luận tội “Trịnh Công Sơn có công hay có tội” tại Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế. Hôm ấy có cả Trần Hoàn, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Viết Ngạc và vài người nữa. Có người lên án, nhưng cũng có người bảo vệ. “Tội” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là ông đã làm nhạc phản chiến một cách chung chung, không phân biệt được chiến tranh xâm lược và chiến tranh giải phóng dân tộc trong bài “Gia tài của mẹ” với câu Hai mươi năm nội chiến từng ngày. Thậm chí ông còn làm nhạc ca ngợi địch trong bài “Cho một người nằm xuống” thương tiếc đại tá không quân Sài Gòn Lưu Kim Cương tử trận – người đã từng cưu mang ông. Nhiều người phát biểu biện hộ cho Trịnh Công Sơn: “Đúng là Trịnh Công Sơn đã làm nhiều bản nhạc phản chiến, anh được mệnh danh là người làm nhạc phản chiến số 1 thời ấy giống như Bob Dylan, Joan Baez ở bên Mỹ. Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tự do, anh theo đuổi chủ nghĩa nhân bản chung chung khác chúng ta. Nhưng anh làm nhạc trong vùng tạm chiếm, người nghe nhạc phản chiến của anh là lính Cộng hòa. Rất nhiều lính của Thiệu đã bỏ ngũ vì nghe bản nhạc Người con gái da vàng của anh. Chẳng có người lính cách mạng nào bỏ ngũ vì nghe nhạc của Trịnh Công Sơn cả. Cũng như ngày xưa bên Trung Quốc, Trương Lương thổi sáo đâu phải để cho quân mình buông kiếm! Đâu phải tự dưng chính quyền Thiệu ra lệnh tịch thu những bài hát của Sơn”. Và chính xấp tài liệu đăng lệnh của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cấm phổ biến nhạc Trịnh Công Sơn, lệnh cấm mang số 33 ngày 8.2.1969, đã có sức thuyết phục lớn đối với những người tham dự tọa đàm. Sau cuộc tọa đàm, Trịnh Công Sơn phải viết kiểm điểm. Hồi ấy, những bản kiểm điểm nói không đúng vấn đề thường phải viết lại. Trịnh Công Sơn chưa quen lối sinh hoạt này nên rất chán chường…” Trong thời hậu chiến này, cả nước rất khó khăn và như bao người Việt khác, Trịnh Công Sơn cũng được điều đi lao động sản xuất, khi thì trồng khoai lang, lúc cấy lúa trên những cánh đồng đầy bom đạn chưa tháo gỡ.

Một thời hạn dài sau 1975, nhiều bài hát của ông bị cấm lưu hành ở tại Nước Ta hay bị một số ít người lôi kéo tẩy chay ở hải ngoại. Tuy nhiên, Khánh Ly và nhiều ca sĩ vẫn liên tục hát và phát hành những băng đĩa với ca khúc của ông tại hải ngoại .

Những năm sau 1975, sau thời gian học tập chính trị, ông làm việc tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc. Từ đầu thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại, lúc đầu một số sáng tác ông gởi qua cho Khánh Ly và chỉ phát hành tại hải ngoại. Khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc trong nước, ông có viết một số bài có nội dung ca ngợi những chủ trương của chế độ mới như Thành phố mùa xuân, Ngọn lửa vĩnh cửu Moskva, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ… Sau đó nhà nước Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị.

Trịnh Công Sơn còn là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 đã thủ vai chính trong phim Đất khổ.[19] Phim hoàn tất năm 1974, nhưng chỉ được chiếu cho công chúng xem 2 lần rồi bị Việt Nam Cộng hòa cấm không được phép trình chiếu ở Miền Nam Việt Nam với lý do “có tính phản chiến”.[20][21] Sau năm 1975, bộ phim không được trình chiếu tại Việt Nam.[22] Cuối cùng, một bản phim đã về tay nhà thơ Đỗ Trung Quân.[23] Bộ phim được chọn là phim Việt Nam chính trong Liên hoan phim Á Mỹ năm 1996. Năm 1997, ông và nghệ sĩ Thanh Bạch và ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh thực hiện album băng hình VHS của mình mang tựa đề Ru tình được Hãng phim trẻ sản xuất năm 1996. Sau đó Hãng phim Phương Nam sản xuất lại dưới dạng VCD & DVD năm 2004. Riêng Hãng phim Phương Nam cũng thực hiện cho ông và nhạc sĩ Văn Cao trong chương trình “Văn Cao & Trịnh Công Sơn” năm 1998 dưới định dạng băng VHS, sau đó là VCD & DVD. Từ đó, ông cùng bà Trịnh Vĩnh Trinh góp mặt trong những CD nhạc do ông sáng tác và được Hãng phim Phương Nam sản xuất trong giai đoạn này như “Ru tình”, “Tình yêu tìm thấy”, “Vì tôi cần thấy em yêu đời”, “Cho đời chút ơn”,…

Cuối đời, ông bị bệnh gan, thận và tiểu đường. Tuy nhiên, ông vẫn nỗ lực sáng tác những ca khúc mới trong những năm cuối đời mình .Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đường lúc 12 giờ 45 ngày 1 tháng 4 năm 2001 ( tức ngày 8 tháng 3 năm Tân Tỵ ), [ 24 ] hàng ngàn người đã đến viếng tang và ” hoàn toàn có thể nói, chưa có nhạc sĩ nào mất đi lại được công chúng thương tiếc như Trịnh Công Sơn “. [ 25 ] Ông được an táng tại Nghĩa trang chùa Quảng Bình ( phường Bình Chiểu – Thành phố Quận Thủ Đức ). Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm. [ 26 ]Năm 2001, nhà hát Hoà Bình cùng Hãng phim Phương Nam thực hiện Đại nhạc hội kỷ niệm 100 ngày mất của ông mang tên ” Như một lời chia tay “. Sau đó là những liveshow tưởng niệm ông như ” Đêm truyền thuyết thần thoại ” ( 2005 ) và ” Rơi lệ ru người ” ( 2007 ) ” .

Sự nghiệp sáng tác[sửa|sửa mã nguồn]

Toàn bộ âm nhạc của anh đẹp như một bức họa trừu tượng hơn là tả thực. Cả nhạc lẫn lời, cả xác lẫn hồn thơ, nghe lãng đãng, mơ hồ, khó phân định cho đúng nghĩa .

Phạm Duy, nói về nhạc Trịnh Công Sơn[27]

Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra .
Nguyễn Xuân Khoát
Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng chừng hơn 600 ca khúc [ 28 ], tuy nhiên tới tháng 4 năm 2017 chỉ có 77 bài được Cục Nghệ thuật Biểu diễn cấp phép. [ 29 ] những tác phẩm có ca từ độc lạ, mang hơi hướng suy niệm. Theo Trung tâm Bảo vệ tác quyền âm nhạc Nước Ta Chi nhánh phía Nam, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vẫn là tác giả được trả tác quyền nhiều nhất với hơn 820 triệu đồng trong năm năm ngoái và luôn trong top 5 nhạc sĩ có tiền trả tác quyền cao nhất [ 30 ] .

Tuy nhiên, có một đánh giá khá phổ biến cho rằng phần nhạc của Trịnh Công Sơn quá đơn điệu về đề tài, chủ yếu tập trung vào tâm trạng mơ hồ, mộng tưởng. Đánh giá này trùng khớp với lời lý giải của ông về sự sáng tác của mình: “Tôi chỉ là 1 tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo…”.[31] Hai mảng đề tài lớn nhất trong âm nhạc Trịnh Công Sơn là tình yêu và thân phận con người.

Tình yêu là đề tài lớn và ảnh hưởng tác động nhất trong những tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Những bản tình ca chiếm đa phần trong hạng mục nhạc phẩm. Khả năng viết nhạc tình của Trịnh Công Sơn tưởng chừng không biết mai một theo năm tháng, theo thời đại : từ 1958 với ” Ướt mi ” đã nổi tiếng cho đến thập niên 1990 ông vẫn có những tình ca được nhiều người ưa thích : ” Như một lời chia tay “, ” Xin trả nợ người ” …Nhạc tình của ông hầu hết là nhạc buồn, thường nói lên tâm trạng buồn bã, đơn độc như trong ” Sương đêm “, ” Ướt mi “, những ca khúc nhạc tình vẫn mênh mang nỗi buồn kiếp người như ” Diễm xưa “, ” Biển nhớ “, ” Tình xa “, ” Tình sầu “, ” Tình nhớ “, ” Em còn nhớ hay em đã quên “, ” Hoa vàng mấy độ “, ” Cỏ xót xa đưa “, ” Gọi tên bốn mùa “, ” Mưa hồng ” …Những bài hát này thường mang giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát, thường được viết với tiết tấu chậm, thích hợp với điệu Slow, Blues hay Boston. Phần lời được nhìn nhận cao nhờ đậm chất thơ, nhiều chiêm nghiệm nhờ những giải pháp ẩn dụ, hoán dụ … nhiều lúc pha lẫn hơi hướng siêu thực, trừu tượng .Nhạc tình của Trịnh Công Sơn rất phổ cập tại Nước Ta và hải ngoại. Tuy rằng không được giới trình độ nhìn nhận cao về phần âm nhạc, nhưng với giai điệu thân mật và ca từ có màu trừu tượng, ý nghĩa sâu lắng, nhạc của ông thuận tiện đi vào lòng công chúng .

Nhạc về thân phận con người[sửa|sửa mã nguồn]

Trịnh Công Sơn từng nói từ khi còn trẻ ông đã luôn ám ảnh bởi cái chết nên âm nhạc của ông mang trong đó một sự mất mát của những số phận con người. Ông cũng tác động ảnh hưởng bởi Phật giáo của phương Đông và chủ nghĩa siêu thực của phương Tây, nhạc Trịnh Công Sơn thấm đượm sắc tố hiện sinh, buồn bã của những tác giả văn học phương Tây thập niên 60 như Jean Paul Sartre, Albert Camus, … Tiêu biểu là những ca khúc ” Cát bụi “, ” Đêm thấy ta là thác đổ “, ” Chiếc lá thu phai “, ” Một cõi đi về “, ” Phôi pha “, …. Bên cạnh đó, có những bài tuy là nhạc buồn nhưng có gợi nên tư tưởng thiền như ” Một cõi đi về “, ” Giọt nước cành sen ” .

Nhạc phản chiến[sửa|sửa mã nguồn]

Khi tên tuổi định hình bằng nhạc tình, thì vai trò xã hội của Trịnh Công Sơn lại gắn liền với một loại nhạc mang tính chất chống lại chiến tranh, kêu gọi hòa bình mà người ta thường gọi là nhạc phản chiến, hay còn gọi là Ca khúc da vàng theo tên các tập nhạc của ông phát hành cuối thập niên 1960. Những “ca khúc da vàng” thường nói lên thân phận của những người dân một nước nhỏ bị lôi kéo vào chiến tranh và nằm trong vòng toan tính, giành giật ảnh hưởng của những nước lớn (thường là khác màu da).

Theo Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác dạng nhạc này vào khoảng năm 1965 – 1966, khi chiến tranh trở nên ác liệt. Năm 1966, ông cho ra đời tập Ca khúc Trịnh Công Sơn, trong đó có manh nha một xu hướng chính trị yếm thế. Đến năm 1967, nhạc Trịnh Công Sơn lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập Ca khúc da vàng. Năm sau, ông cho ra tiếp tập Kinh Việt Nam. Từ năm 1970 tới 1972 ông tự ấn hành được hai tập nhạc phản chiến là Ta phải thấy mặt trờiPhụ khúc da vàng.[32] Trong các băng nhạc Hát cho Quê hương Việt Nam của Khánh Ly, những ca khúc phản chiến được bố trí khéo léo đan xen với các ca khúc trữ tình. Những tập ca khúc vừa kể đều được phát hành hợp pháp tại miền Nam trước 1975. Chính vì thế các ca khúc phản chiến của ông được phổ biến khá rộng rãi, có ảnh hưởng lớn đến công chúng nhất là giới trí thức, học sinh – sinh viên miền Nam.

Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn phần nhiều viết bằng điệu Blues, cộng với lời ca đậm chất hiện thực, rất đơn sơ, trần trụi ( khác hẳn với dòng nhạc tình ), trở nên những bài hát gây xúc động can đảm và mạnh mẽ. Những bản nhạc này được ông cùng Khánh Ly đem đi hát ở nhiều nơi tại miền Nam, được nhiều người nhất là giới sinh viên nhiệt tình ủng hộ. Đây cũng là loại nhạc làm cho khét tiếng của Trịnh Công Sơn lan ra quốc tế : nhờ nhạc phản chiến ông được một Đĩa Vàng ( phần thưởng âm nhạc ) tại Nhật và có tên trong tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp [ 33 ] .

Nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn hay Phạm Duy và các nhạc sĩ khác được cho là có vai trò trong giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam, bên cạnh phong trào Hát cho dân tôi nghe của Tôn Thất Lập. Cũng vì loại nhạc không rõ nghiêng về phe nào này mà ông đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai phe đối địch. Nhưng về phía Trịnh Công Sơn, không thể phủ nhận rằng ông đã trở thành một tên tuổi đặc biệt nhờ vào dòng nhạc này.

Cho đến nay, sau hơn 30 năm độc lập, rất nhiều bài hát ” da vàng ” của ông chưa được phép lưu hành chính thức tại Nước Ta lúc bấy giờ dù đã từng rất thông dụng ( và được Khánh Ly phát hành băng nhạc ) tại miền Nam trong thời cuộc chiến tranh Nước Ta ( như bài ” Đi tìm quê nhà “, ” Chính tất cả chúng ta phải nói tự do “, ” Gia tài của mẹ “, ” Cho một người vừa nằm xuống ” [ 34 ] ” Chưa mất niềm tin “, ” Chờ nhìn quê nhà sáng chói “, ” Hát trên những xác người “, ” Ta đi dựng cờ “, ” Ta quyết phải sống ” )

Ngoài các bản nhạc tình và nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn còn để lại những tác phẩm viết về quê hương như “Chiều trên quê hương tôi”, những tác phẩm thể hiện quan điểm chính trị rõ hơn như “Huế – Sài Gòn – Hà Nội”, “Việt Nam ơi hãy vùng lên” (1970), “Nối vòng tay lớn”, “Chưa mất niềm tin” (1972)… trong đó có những bài rời được sáng tác ngay trong những cuộc xuống đường biểu tình cùng thanh niên, sinh viên, học sinh.[35]

Từ đầu thập niên 1980, khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc trong nước, ông có viết một số bài nhạc cách mạng như “Em ở nông trường em ra biên giới”, “Huyền thoại Mẹ”, “Ánh sáng Mạc Tư Khoa”,[36] “Ra chợ ngày thống nhất”[37]…

Về sau, ông cũng viết nhạc cho mần nin thiếu nhi ( trong tập nhạc ” Cho Con “, xuất bản năm 1991 [ 38 ] ), nhiều bài rất nổi tiếng như ” Em là hoa hồng nhỏ “, ” Mẹ đi vắng “, ” Em đến cùng mùa xuân “, ” Tiếng ve gọi hè “, ” Tuổi đời bát ngát “, ” Mùa hè đến “, ” Tết suối hồng “, ” Khăn quàng thắp sáng bình minh “, ” Như hòn bi xanh “, ” Đời sống không già vì có chúng em ” .Hiện nay, bản quyền những tác phẩm của ông thuộc quyền thừa kế và chiếm hữu bởi Trịnh Vĩnh Trinh ( em gái ông, sống tại Nước Ta ) và Trịnh Xuân Tịnh ( anh trai ông, sống tại Mỹ ), mỗi người giữ 50% quyền sở hữu với những tác phẩm của Trịnh Công Sơn [ 39 ] Bản quyền có thời hạn đến hết 50 năm sau ngày ông qua đời .

Ông làm thơ ít trong những lúc ngẫu hứng, hiện nay còn để lại một số bài thơ tự sáng tác,[40] và các bản dịch phỏng như trong tập Hán tự hài cú của Ngô Văn Tao, hay các bài thơ vui, thơ chơi.

Bên cạnh âm nhạc, Trịnh Công Sơn để lại khá nhiều tác phẩm hội họa, bút tích. Các tác phẩm hội họa của ông đã được triển lãm tại Nhà Hữu Nghị Tiệp Khắc – Nước Ta, từ ngày 14 tháng 1 năm 1989 đến 24 tháng 1 năm 1989 cùng với 2 họa sỹ Đinh Cường và Đỗ Quang Em, triển lãm tại nhà khách Ritz, và Trang viên Con Nai Vàng, Quận Thủ Đức, từ ngày 15 tháng 12 năm 1990 đến 20 tháng 1 năm 1991 cùng với 2 họa sỹ Trịnh Cung và Đỗ Quang Em. [ 41 ]Một số trong đó hiện còn được lưu giữ và tọa lạc tại Hội Ngộ Quán. [ 42 ]

Danh sách những bài hát[sửa|sửa mã nguồn]

Cho đến năm 2017 theo như Nguyễn Đăng Chương, Giám đốc Sở Biểu diễn nghệ thuật của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, có 70 bài hát của Trịnh Công Sơn được phép trình diễn trước công chúng.[43] Bài hát mới nhất vừa được phép, là Nối vòng tay lớn, vào ngày 12 tháng 4 năm 2017.[44]

Danh sách một số ít bài hát[sửa|sửa mã nguồn]

  1. Ai ngoài cánh cửa?
  2. Bà mẹ Ô Lý
  3. Bay đi thầm lặng
  4. Bằng lòng
  5. Bài ca dành cho những xác người (Ballad to the dead)
  6. Bên đời hiu quạnh
  7. Biển nghìn thu ở lại
  8. Biển nhớ (You said goodbye)
  9. Biển sáng (Bright sea) (sáng tác cùng với Phạm Trọng Cầu)
  10. Biết đâu nguồn cội (Unbeknownst to me, the root)
  11. Bống bồng ơi
  12. Bống không là Bống
  13. Bốn mùa thay lá (Four seasons of change)
  14. Ca dao mẹ (A mother’s lament)
  15. Cánh đồng hoà bình (Fields of peace)
  16. Cát bụi (Sand and dust)
  17. Chiếc lá thu phai (The withering fall leaf)
  18. Chiều một mình qua phố (An afternoon promenade of solitude)
  19. Chìm dưới cơn mưa (Buried under the rain)
  20. Cho đời chút ơn (Grace onto life)
  21. Cho một người nằm xuống (Song for the fallen)
  22. Chưa mất niềm tin (Still believing)
  23. Chưa mòn giấc mơ (A dream that hasn’t been eroded)
  24. Con mắt còn lại (The remaining eye)
  25. Có một dòng sông đã qua đời (A river that died)
  26. Có nghe đời nghiêng (Tilting life)
  27. Còn ai với ai / Còn tôi với ai
  28. Còn mãi tìm nhau (Forever seeking)
  29. Còn có bao ngày (Not many days are left)
  30. Còn thấy mặt người
  31. Còn tuổi nào cho em
  32. Cỏ xót xa đưa (Sway sorrow weeds)
  33. Cúi xuống thật gần (Bend down, come closer)
  34. Cũng sẽ chìm trôi (Eventual withering)
  35. Cuối cùng cho một tình yêu (The end of a romance)
  36. Dân ta vẫn sống
  37. Dấu chân địa đàng / Tiếng hát dạ lan (Footprints in Eden / The singing of the Hyacinth)
  38. Diễm xưa (Over the old tower)
  39. Du mục (Nomad)
  40. Dựng lại người, dựng lại nhà (People rebuilt, houses rebuilt)
  41. Đại bác ru đêm (A Lullaby of Cannons for the Night)
  42. Để gió cuốn đi (Gone with the wind)
  43. Đêm / Đêm Hồng (Night / Pink Night)
  44. Đêm bây giờ, đêm mai (This night, tomorrow night)
  45. Đêm thấy ta là thác đổ (One night I saw me as a waterfall)
  46. Đi mãi trên đường (Never-ending road)
  47. Đóa hoa vô thường (Evanescent bloom)
  48. Đoản khúc thu Hà Nội (Ditty for Hanoi’s autumn)
  49. Đợi có một ngày (Waiting for the day)
  50. Đời cho ta thế
  51. Đôi mắt nào mở ra (Open your eyes)
  52. Đồng dao hoà bình (The rhymth of Peace)
  53. Đừng mong ai, đừng nghi ngại
  54. Em còn nhớ hay em đã quên (Do you still remember or have you forgotten?)
  55. Em đã cho tôi bầu trời (The heaven you have brought to me)
  56. Em đi bỏ lại con đường
  57. Em đi trong chiều (In the evening you walk)
  58. Em hãy ngủ đi (Love, you should sleep)
  59. Em là hoa hồng nhỏ (You are a little rose)
  60. Gần như niềm tuyệt vọng (A resemblance of despair)
  61. Gia tài của mẹ (A mother’s legacy)
  62. Giọt lệ thiên thu (A tear of eternity)
  63. Giọt nước mắt cho quê hương (A tear for my homeland)
  64. Gọi tên bốn mùa (Conjure up the four seasons)
  65. Góp lá mùa xuân
  66. Hạ trắng (We’re not apart)
  67. Hai mươi mùa nắng lạ (Twenty seasons of strange sunlight)
  68. Hành hương trên đồi cao / Người đi hành hương trên đỉnh cao (Pilgrimage)
  69. Hát trên những xác người (Singing over the dead), đừng nhầm với “Bài ca dành cho những xác người”
  70. Hãy cố chờ (Let’s try to wait)
  71. Hãy cứ vui như mọi ngày (Just be happy like any other day)
  72. Hãy khóc đi em (Just cry, my dear)
  73. Hãy nhìn lại (Just look back and see)
  74. Hãy sống giùm tôi (Just live my life for me)
  75. Hãy yêu nhau đi (Give me your hand)
  76. Hoà bình là cơm áo (Peace means weal)
  77. Hoa vàng mấy độ (The flowers that were once golden bright)
  78. Hoa xuân ca (Spring flowers song)
  79. Hôm nay tôi nghe (Today I heard)
  80. Huế – Sài Gòn – Hà Nội (Hue – Saigon – Hanoi)
  81. Huyền thoại mẹ (Legendary mother)
  82. Khăn quàng thắp sáng bình minh
  83. Khói trời mênh mông
  84. Lại gần với nhau (Closer)
  85. Lặng lẽ nơi này (So silent here)
  86. Lời buồn thánh
  87. Lời mẹ ru (A mother’s lullaby)
  88. Lời ở phố về
  89. Lời ru đêm (Night’s lullaby)
  90. Lời thiên thu gọi (Eternity’s calling)
  91. Mẹ bỏ con đi / Đường xa vạn dặm
  92. Mẹ đi vắng
  93. Môi hồng đào (Rosy Lips)
  94. Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui (Each day I choose joy)
  95. Một buổi sáng mùa xuân (A spring morning)
  96. Một cõi đi về (Circle of life)
  97. Một lần thoáng có
  98. Một ngày như mọi ngày (A day just like any other day)
  99. Một ngày vinh quang (A day of glory)
  100. Mùa áo quan (The season of coffins)
  101. Mùa hè đến (The summer’s arrived)
  102. Mùa phục hồi / Xin chờ những sớm mai (The season of recuperation / Waiting for tomorrow mornings)
  103. Mưa hồng (Pink rain)
  104. Mừng sinh nhật
  105. Nắng thuỷ tinh (Crystal sunlight)
  106. Này em cớ nhớ (Do you remember?)
  107. Ngẫu nhiên (Perchance)
  108. Ngày dài trên quê hương (A long day in the Motherland)
  109. Ngày mai đây bình yên (Peaceful future)
  110. Ngày về (Returning home)
  111. Ngày xưa khi còn bé (Childhood days)
  112. Nghe những tàn phai (The sound of evanescing)
  113. Nghe tiếng muôn trùng
  114. Ngủ đi con (Go to sleep, my child)
  115. Ngụ ngôn mùa đông (A winter fable)
  116. Người con gái Việt Nam da vàng (A yellow-skinned Vietnamese girl)
  117. Người già em bé (An old person, a baby)
  118. Người về bỗng nhớ (Now i can see)
  119. Nguyệt ca (The lunar song)
  120. Nhìn những mùa thu đi (Watch the autumns go by)
  121. Nhớ mùa thu Hà Nội (Missing Hanoi’s autumn)
  122. Như cánh vạc bay (Like a flying crane)
  123. Như chim ưu phiền (Anguishing bird)
  124. Như một lời chia tay (Words of good-bye)
  125. Như một vết thương (A wound)
  126. Như tiếng thở dài (As a deep sigh)
  127. Những con mắt trần gian (The earthly eyes)
  128. Những giọt máu trổ bông (The blooming of the blood drops)
  129. Níu tay nghìn trùng (Grabbing hands over a thousand miles)
  130. Nối vòng tay lớn (Circle of unity)
  131. Ở trọ / Cõi tạm (Temporary stay)
  132. Phôi pha (Withering)
  133. Phúc âm buồn (Dolorous Gospel)
  134. Quê hương đau nặng (Motherland in pain)
  135. Quỳnh hương (Scent of the ephemeral bloom)
  136. Ra đồng giữa ngọ
  137. Rồi như đá ngây ngô (Not gone at all)
  138. Rơi lệ ru người
  139. Ru đời đã mất (Lullaby for a lost life)
  140. Ru đời đi nhé (Lullaby to life)
  141. Ru em (Lullaby for you)
  142. Ru em từng ngón xuân nồng / Ru mãi ngàn năm (Eternal lullaby)
  143. Ru ta ngậm ngùi / Môi nào hãy còn thơm (Lullaby for a sorrowful me)
  144. Ru tình (Lullaby for love)
  145. Rừng xưa đã khép (Your old woods are closed)
  146. Sao mắt mẹ chưa vui?
  147. Sẽ còn ai (Who will remain?)
  148. Sóng về đâu (To where the waves depart)
  149. Ta đi dựng cờ
  150. Tạ ơn (Thanksgiving)
  151. Ta phải thấy mặt trời (We must be able to see the Sun)
  152. Ta quyết phải sống (We have to survive & live)
  153. Ta thấy gì đêm nay (What have we seen tonight?)
  154. Thuở Bống là người (The time when Bong was in human form)
  155. Thiên sứ bâng khuâng (thơ Trịnh Cung)
  156. Thương một người (Loving someone)
  157. Tiến thoái lưỡng nan (All ways closed off)
  158. Tiếng ve gọi hè
  159. Tình ca của người mất trí (“Ballad of an insane person” or “Love song of a deranged woman”)
  160. Tình khúc Ơ-bai
  161. Tình nhớ (Memory)
  162. Tình sầu (Sorrowful love)
  163. Tình xa (Distant love)
  164. Tình xót xa vừa
  165. Tình yêu tìm thấy
  166. Tôi đã mất (I have lost)
  167. Tôi đang lắng nghe / Im lặng thở dài (I am listening / Quiet sigh)
  168. Tôi ơi đừng tuyệt vọng (Despair not, dear me)
  169. Tôi ru em ngủ (My lullaby for you)
  170. Tôi sẽ đi thăm (I shall visit)
  171. Tôi sẽ nhớ (I shall remember)
  172. Tôi tìm tôi / Tôi là ai? (I search for myself / Who am I?)
  173. Trong nỗi đau tình cờ
  174. Tự tình khúc
  175. Từng ngày qua (Everyday through)
  176. Tuổi đá buồn (Stone’s age of despair)
  177. Tuổi đời mênh mông
  178. Tuổi trẻ Việt Nam (Vietnamese Youths)
  179. Tưởng rằng đã quên (Thought that I have forgotten)
  180. Ướt mi (“Misty eyes” or “Tearing lashes”)
  181. Vẫn có em bên đời (I still have you in my life)
  182. Vẫn nhớ cuộc đời
  183. Vàng phai trước ngõ
  184. Về trong suối nguồn (Back to the fountainhead)
  185. Về thăm mái trường xưa (Revisiting the old school)
  186. Vết lăn trầm
  187. Vì bé ngoan
  188. Vì tôi cần thấy em yêu đời
  189. Vườn xưa (Garden of the past)
  190. Xa dấu mặt trời (Far from the sun)
  191. Xanh lòng phai tàn
  192. Xin cho tôi (Please give me)
  193. Xin mặt trời ngủ yên (Please let the sun sleep)
  194. Xin trả nợ người
  195. Yêu dấu tan theo (Fading love)

Phát ngôn, bút tích[sửa|sửa mã nguồn]

Bên cạnh âm nhạc, ông còn để lại khá nhiều phát ngôn về quan điểm chính trị cũng như những dòng văn suy niệm về thân phận, đời sống .

Tôi, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, rất vui mừng và cảm động gặp và nói chuyện với tất cả các anh em văn nghệ sĩ ở miền nam Việt Nam này. Hôm nay là cái ngày mơ ước của tất cả chúng ta, đó là ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn tất cả đất nước Việt Nam này.

Cũng như những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả những kết quả đó.

Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền nam Việt Nam hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước![45]

Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận thì hữu hạn. Tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời.[46]

Khi bạn hát một bản tình ca là bạn đang muốn hát về cuộc tình của mình. Hãy hát đi đừng e ngại. Dù hạnh phúc hay dở dang thì cuộc tình ấy cũng là một phần máu thịt của bạn rồi.[47]

Nếu có người nào đó thách thức tôi một trò chơi nghịch ngợm thì tôi sẽ mang tình yêu ra mà đánh đố. Tôi e, không ai dám tự xưng mình am tường hết nội dung phong phú và quá phức tạp của tình yêu. Có người yêu thì hạnh phúc, có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc thì con người vẫn muốn yêu. Tình yêu vì thế mà tồn tại. Con người không thể sống mà không yêu.[48]

Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúng tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá. Tôi không còn gì để chiêm bái ngoài nỗi tuyệt vọng và lòng bao dung. Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa…[49]

Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi một con người vì sợ mất tình mà giữ mãi một lòng nhớ nhung. Cuối cùng thì lòng yêu thương cuộc sống cũng không giữ lại đời người. Cuối cùng thì tình yêu không giữ được người mình yêu…[50]

Suốt đời, Trịnh Công Sơn có nhiều mối tình nhưng không chính thức kết hôn với ai, và cũng chưa chính thức công nhận là có con .

Trịnh Công Sơn không có vợ, nhưng ông có những mối tình đẹp và lãng mạn không chỉ với những phụ nữ ở Việt Nam mà ở cả ngoại quốc. Theo lời của người em gái Hoàng Diệu, lý do lớn nhất ông không kết hôn là: “Anh Sơn luôn ngại làm phiền người sẽ ở cùng phòng với mình, bởi anh cực kỳ ít ăn và ít ngủ và có giờ giấc làm việc chẳng giống ai. Anh thường xuyên thức dậy giữa khuya khi nghĩ ra được ý nào đó và ngồi viết lại hoặc vẽ đến sáng. Bởi vậy mà khi lần đầu tiên có ý định cưới vợ – một Việt kiều Pháp (sáu tháng ở Pháp, sáu tháng ở Việt Nam), anh đã có những dự định rất rõ ràng: Anh và chị sẽ có hai căn phòng nằm cạnh nhau chứ không phải lúc nào cũng ở chung phòng để có thể giữ được sự riêng tư cần thiết.” Và rồi, vì nhiều lý do, mối duyên ấy không thành.[51]

Mối tình đầu, thực ra chỉ là 1 tình bạn đẹp của ông là với ca sĩ Khánh Ly, [ 52 ] rồi sau đó với một cô gái Nhật Bản làm luận án tiến sỹ về âm nhạc Trịnh Công Sơn. Hai người cũng từng tiến xa đến một kế hoạch đám cưới, nhưng rồi cũng không thành vì Trịnh Công Sơn không gật đầu một vài nguyên tắc của mái ấm gia đình người Nhật đưa ra khi anh về làm rể. [ 51 ] Và Dao Ánh ( người trong mộng của ông từ năm 1964 đến năm 1967 [ 53 ] ) ; em ruột của bà Ngô Vũ Bích Diễm. Đây chính là ” bóng hồng ” trong nhạc phẩm ” Diễm xưa “. Trước khi yêu Dao Ánh, Trịnh Công Sơn từng dành tình cảm với cô chị gái Bích Diễm nhưng tình cảm ấy không thành .

Mối tình thứ tư của ông là với ca sĩ Hồng Nhung, và mối tình thứ năm của ông là với VA…, khi ông mất VA là một trong số các người thân ở bên cạnh ông[cần dẫn nguồn].[54]

Sau 1975, đã có hai lần ông định lập mái ấm gia đình nhưng đều không thành. Lần đầu vào năm 1983, với một thiếu phụ tên là C.N.N., sinh năm 1944. Từ Q. 18, Paris, bà C.N.N. [ 55 ]

Những năm cuối cùng của cuộc đời, niềm say mê lớn nhất, Trịnh Công Sơn gần như dành hết cho ca sĩ Hồng Nhung mà theo ông là “Một người quá gần gũi không biết phải gọi là ai!”… Với Hồng Nhung, tâm hồn Trịnh gần như trẻ lại, khiến bước chân ông trở nên bối rối, ngập ngừng với buổi hẹn ban đầu.[56]

Một người khác cũng từ Hà Nội kể lại tình cảm của cô dành cho Trịnh Công Sơn và của Trịnh dành cho cô lần đầu gặp mặt: “Lần đầu tiên đứng trước nhau, cả tôi và anh Sơn đều run. Tôi run vì quá trẻ và Sơn run vì anh quá… già!”[56]

Hoàng Anh, một người được cho là người yêu của Trịnh Công Sơn nói về tình yêu đối với ông: “Hiện tôi vẫn để ảnh tưởng nhớ Trịnh Công Sơn trong phòng ngủ, nhưng chồng tôi không bao giờ thắc mắc, mà luôn tôn trọng thế giới riêng của tôi”‘.[57]

Tình yêu của Trịnh Công Sơn dành cho nhiều phụ nữ trẻ, đẹp và nổi tiếng, họ yêu ông say đắm, khi ông mất có người còn xin gia đình cho được để tang ông, nhưng ông không sống khăng khít với một phụ nữ nào.[58] Tài năng của ông luôn liên tục thăng hoa, ngoài âm nhạc ông còn đóng phim, hội họa.[41] Nhưng ông nhìn nhận cuộc đời và dành tình cảm cho đời một cách rất giản đơn với không hề tham vọng, ông nói một cách thản nhiên về cuộc đời: Cái chết chẳng qua cũng chỉ là một sự đùa cợt sau cùng của cuộc sống.

Ca sĩ bộc lộ[sửa|sửa mã nguồn]

Tên tuổi gắn nhiều nhất với những bài hát nhạc Trịnh Công Sơn là Khánh Ly. Khánh Ly, bắt đầu là một ca sĩ ít tên tuổi tại Đà Lạt, bén duyên với nhạc Trịnh trong một dịp vô tình, để rồi từ đó về sau đã biểu lộ hầu hết những ca khúc của Trịnh Công Sơn, để rồi được cho là người thành công xuất sắc nhất .Nhưng Khánh Ly không phải người tiên phong hát nhạc Trịnh, trước đó Trịnh Công Sơn đã mời những tên tuổi lẫy lừng bấy giờ là Thanh Thúy, Hà Thanh, Lệ Thu và cả danh ca Thái Thanh ra mắt những sáng tác đầu tay của mình ra công chúng, tuy nhiên ở đầu cuối ông lại chọn Khánh Ly, người cũng đã vụt lên thành ngôi sao 5 cánh sáng sau khi bộc lộ những bản tình ca buồn bã thâm trầm và dòng nhạc phản chiến can đảm và mạnh mẽ của Trịnh Công Sơn bằng chất giọng khàn đục lạ lùng .

Ngoài Khánh Ly, nhiều ca sĩ hát nhạc Trịnh Công Sơn cũng được đánh giá cao như Lệ Thu, Thái Thanh, Ngọc Lan, Lan Ngọc. Giọng nam thì có Tuấn Ngọc và sau này là Quang Dũng. Tuấn Ngọc tuy không chuyên về nhạc Trịnh nhưng được Trịnh Công Sơn đánh giá cao khi hát nhạc của ông[59]. Cuối cùng phải kể đến giọng hát của Toàn Nguyễn (nhiều người nhầm lẫn giọng ca Toàn Nguyễn tên thật là Nguyễn Văn Toàn thành nhà thơ/nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn) khi ông thực hiện album 11 Ca Khúc Trịnh Công Sơn vào năm 1988. Toàn Nguyễn có 2 quê Nam Định và Hải Phòng, trước đây anh có phòng trà ở Sài Gòn, giờ lập nghiệp với phòng trà riêng của mình ở Vũng Tàu. Toàn Nguyễn hát nhạc Trịnh bằng giọng nhẹ nhàng, tâm sự và ngón đàn guitar acoustic thổn thức rất được giới mộ điệu ưa thích.

Ở Nước Ta tiến trình sau 1975 cũng có những người hát nhạc Trịnh Công Sơn thành công xuất sắc như Trịnh Vĩnh Trinh ( Em gái nhạc sĩ ) và đặc biệt quan trọng phải kể đến Hồng Nhung hát nhạc Trịnh theo phong thái trọn vẹn mới và được người theo dõi tiếp đón [ 60 ] [ 61 ]. Ngoài ra, còn có Cẩm Vân, Ánh Tuyết, Bảo Yến, Trần Thu Hà và Hồng Hạnh .Cũng nên kể đến những ca sĩ muốn thử nghiệm nhạc Trịnh Công Sơn bằng phong thái ” mới ” và ” lạ “, để rồi bị người theo dõi phản đối nặng nề, tiêu biểu vượt trội là Thanh Lam, Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng [ 62 ] [ 63 ]. Ngoài ra còn có Thu Phương, Phương Thanh, Mỹ Lệ, Mỹ Linh, Trần Thu Hà, Đức Tuấn, Ngô Quang Vinh, Lệ Quyên, Hiền Thục, Hồ Trung Dũng, Đồng Lan, Hà Lê thu âm và làm mới lại theo những phong thái khác nhau. Bản thân nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng tự mình bộc lộ và thu âm một số ít ca khúc và được khán thính giả yêu quý. Tuy nhiên, dù có rất nhiều những nghệ sĩ bộc lộ nhạc Trịnh, nhưng thành công xuất sắc vẫn là Khánh Ly và đại diện thay mặt tiêu biểu vượt trội ở thế hệ sau là Hồng Nhung và Quang Dũng biểu lộ .

Ngày xưa tôi rất quý anh Trịnh Công Sơn và ngược lại. Tôi yêu sự chân thành, dễ thương và trân trọng, tài năng của con người đó. Mặc dù, âm nhạc của anh ấy không phải là cái gì quá ghê gớm nhưng có mấy ai mà có cả đủ tâm lẫn tài như thế.[64]

— Phú Quang

Lời ca trong ca khúc Trịnh Công Sơn đã tạo nên tên tuổi Trịnh Công Sơn[65]

— Bửu Ý

Tình yêu trong nhạc của anh là những cảm xúc dữ dội như trái phá con tim mù lòa, như nỗi chết cơn đau thật dài, như vết thương mở rộng… Cuộc đời là hư vô chủ nghĩa, con người sống trong cảnh Chúa, Phật bỏ loài người. Cuộc đời còn là đám đông nhưng cũng là quán không. Con người là cát bụi mệt nhoài, bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi… Tất cả nói lên sự muộn phiền, đau đớn… Buồn tủi cho thân phận con người nên nhánh cỏ cũng xót xa, phiến đá cũng ưu phiền, và chỉ còn những mưa và mưa để xoa dịu vết thương mở lớn! (…)… Trịnh Công Sơn nói lên nỗi bàng hoàng của con người khi thấy cái chết nằm ngay trong sự sống (…) Nguyễn Đình Toàn gọi nhạc Trịnh Công Sơn là những bản tình ca không có hạnh phúc, những bài hát cho quê hương đổ vỡ. Cũng là phản ứng của người đau đớn trước hoàn cảnh đất nước, nhưng nó là sự chịu đựng và chết lịm hơn là sự nổi sùng và chửi bới. (…)…Về phần nhạc, toàn thể ca khúc Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, rắc rối vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, rất phù hợp với tiếng thở dài của thời đại. Bài hát chỉ cần một chiếc đàn guitare đệm theo, nếu hòa âm phối khí rườm rà thì không hợp với những bài hát soạn theo thể ballade này.[66]

— Phạm Duy, 1991

Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người của thơ ca (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ… Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra[67]

— Văn Cao

…, tình ca Trịnh Công Sơn không hẳn chỉ là 1 bông hồng dâng tặng – nó chứa đựng tất cả tâm trạng lo âu của con người nhìn ra thế giới hiện đại [68]

— Hoàng Phủ Ngọc Tường, 1991

Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ có nhiều người hâm mộ nhất. Đi đến đâu, tôi cũng thấy người ta hát ca khúc của anh. Nhạc Trịnh không chỉ ngự trị khắp mọi xó xỉnh của xứ Việt này mà còn len lỏi đến tận những ngóc ngách sâu thẳm nhất trong cõi tinh thần của người Việt ở Hải ngoại. Dường như ở đâu, Trịnh Công Sơn cũng có người yêu mến.[69]

— Trần Đăng Khoa

Anh yêu nhạc Trịnh Công Sơn, như thế có nghĩa anh là người tử tế…
… Nhạc anh Sơn rất đặc biệt quan trọng. Bài nào cũng chỉ phất phơ có mấy nét thôi, cứ như là nhạc của trẻ con ấy. Nhưng nghe là nhớ ngay. Trịnh Công Sơn đã đạt được đến độ cao nhất của thẩm mỹ và nghệ thuật. Đó là sự đơn giản và giản dị … Người hát hay nhất nhạc Trịnh chính là Trịnh Công Sơn. Sau Trịnh mới đến Khánh Ly. Sau Khánh Ly là không còn ai nữa. Hồng Nhung chỉ hát tàm tạm được một đôi bài ……. Mặc dù nhạc Cách mạng của những anh rất hay. Hầu nh ­ ư bài nào cũng hay. Khoẻ khoắn, hùng tráng. Nhưng đó là nhạc hội hè, nhạc vui. Nhạc cho tổng thể mọi người. Hầu hết nhạc sĩ những anh đều viết cho đám đông. Người ta hát khi vui, hát ở chỗ đông người. Còn nhạc anh Sơn là nhạc chỉ dành cho một người. Khi nào buồn, khi nào đơn độc đến vô vọng mà không còn biết bấu víu vào đâu nữa, ngư ­ ời ta tìm về với Trịnh. Trịnh sẽ đón họ, nâng đỡ an ủi họ. Vì thế, tôi mới bảo Trịnh Công Sơn là một nửa âm nhạc Nước Ta ……. Tôi rất yêu nhạc Trịnh. Yêu như một Fan Hâm mộ của anh ấy. Nhưng cũng phải thành thật mà nói rằng, nhạc Trịnh nghe lẻ từng bài thì hay. Nhưng nghe cả một cuộn băng thì lại thấy mệt vì đơn điệu. Ông Văn Cao của những anh phong phú hơn nhiều, đa dạng và phong phú hơn nhiều, mặc dầu so với Trịnh Công Sơn, ông ấy viết rất ít … [ 69 ]

— Frank Gerke

..Nhưng giai điệu, tiết tấu và ca từ của nhạc Trịnh đa phần là sự bi lụy, ai oán về thân phận… Nếu là tác phẩm lớn luôn phải chứa đủ ba yếu tố (tư, tứ, tự), trong cái tư, tứ, tự đó thì cái “tư” tức là cái tư tưởng phải đi đầu… nhưng tư tưởng của Trịnh thì luôn luôn hướng đến cho người nghe sự chấp nhận, cam chịu số phận nhiều hơn. Tính từ bi trong nhạc Trịnh cũng chỉ là sự kêu gọi hời hợt, không có đường dẫn, không có con đường… đôi khi sẽ làm cho một số người bị lạc lối đời sống, mù mờ về vũ trụ nhân sanh.[70]

— Đoàn Quang Anh Khanh

…Tôi thậm chí càng thấy rõ nhạc Trịnh đã ảnh hưởng luôn cả cách hành xử của một số người. Vì họ nhu nhược, tự kỷ quá lâu nên mới hành xử như kiểu “va xe ngoài đường”. Tư tưởng trong nhạc Trịnh vẫn còn đó sự hẹp hòi, loanh quanh luẩn quẩn không lối ra… nhạc thì tối, mang đầy âm khí. Chẳng thấy có cái gì cao siêu ở đây để mà thờ cả![71]

— Đoàn Quang Anh Khanh

Đóng góp cho điện ảnh[sửa|sửa mã nguồn]

  • Diễn viên: phim Đất khổ, phim năm 1974 của đạo diễn Hà Thúc Cần
  • Viết nhạc và bài hát cho phim:
  • Nhạc và bài hát được sử dụng trong phim
  • Phim về Trịnh Công Sơn:

Trao Giải và tôn vinh[sửa|sửa mã nguồn]

  • Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng (phát hành trên 2 triệu đĩa) ở Nhật Bản với bài “Ngủ đi con” (trong Ca khúc da vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly. Năm 1979, hãng đĩa Nippon Columbia mời Khánh Ly thu băng lần thứ hai các nhạc phẩm của ông, cũng vào năm này ca khúc “Ngủ đi con” trở thành một bản hit ở Nhật Bản.
  • Giải thưởng cho Bài hát hay nhất trong phim “Tội lỗi cuối cùng”
  • Giải Nhất của cuộc thi “Những bài hát hay nhất sau 10 năm chiến tranh” với bài “Em ở nông trường, em ra biên giới”
  • Giải Nhất cuộc thi “Hai mươi năm sau” với bài “Hai mươi mùa nắng lạ”.
  • Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhạc Sĩ cho một chuỗi bài hát: “Xin trả nợ người”, “Sóng về đâu”, “Em đi bỏ lại con đường”
  • Năm 2004, Giải thưởng Âm nhạc hòa bình thế giới được trao cho ông vì “lý tưởng hòa bình mà ông đã đấu tranh không mệt mỏi cho nhân loại”.
  • Trịnh Công Sơn có tên trong từ điển bách khoa Pháp Les Million.
  • Trong Lễ trao giải Làn sóng xanh năm 2005, 10 ca sĩ nổi tiếng của Việt Nam thực hiện Liên khúc Trịnh Công Sơn để tôn vinh ông và kỉ niệm 5 năm ngày mất của nhạc sĩ này (2006).[76]
  • Trong cuộc họp chiều 17 tháng 3 năm 2011, Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã chính thức thông qua việc đặt tên của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho con đường dài 600 mét, rộng 11 mét lát nhựa mới mở ven sông Hương thuộc phường Phú Cát, thành phố Huế.[77]
  • Năm 2015, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội quyết định đặt tên của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho một tuyến phố dài 900m, rộng 9,5 – 12,5 m từ ngã ba ngõ 612 đường Lạc Long Quân (cạnh công viên Hồ Tây) đến đường Âu Cơ cạnh trường THPT Phan Chu Trinh (sau trở thành tuyến phố đi bộ) thuộc địa bàn phường Nhật Tân, quận Tây Hồ.
  • Ở thành phố Huế – quê hương ông cũng có tên đường ”Trịnh Công Sơn”. Tại TP.HCM cũng có một con đường nằm trong khu nhà cao cấp Gia Hòa ở thành phố Thủ Đức (Quận 9 cũ) mang tên ông.[78]
  • Ngày 28 tháng 2 năm 2019, Trịnh Công Sơn trở thành nhân vật xuất hiện trên trang chủ tiếng Việt của công cụ tìm kiếm phổ biến nhất thế giới Google nhân dịp sinh nhật lần thứ 80 của ông.[79] Đây là lần đầu tiên Google Doodle vinh danh một người Việt Nam (người Việt thứ hai là họa sĩ Bùi Xuân Phái).[80] Một số tranh của ông được đưa lên lịch 2019.[81]
  • Trịnh Công Sơn – Người hát rong qua nhiều thế hệ. Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2001, sau ngày mất của nhạc sĩ
  • Trịnh Công Sơn – cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội họa & suy tưởng. Nhà xuất bản-Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh
  • Trịnh Công Sơn – Rơi lệ ru người. Nhà xuất bản Phụ nữ
  • Trịnh Công Sơn cát bụi lộng lẫy. Nhà xuất bản Thuận hóa – Tạp chí Sông Hương
  • Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của Hoàng tử bé. Hoàng Phủ Ngọc Tường – Nhà xuất bản Trẻ
  • John C. Schafer, “[https://web.archive.org/web/20150427052638/http://users.humboldt.edu/sjohn/pdf%20TrinhCongSon_Phenomenon%20final.pdf Lưu trữ 2015-04-27 tại Wayback Machine Hiện tượng Trịnh Công Sơn]”.Journal of Asian Studies 66 (Aug., 2007): 597-643

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Sưu tập
Đánh giá

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *